Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 441/2024/DS-PT.

Ngày: 08-11-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay

tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

Các Thẩm phán:

  1. Ông Nguyễn Văn Thu
  2. Bà Hoàng Thị Thúy Lành

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 413/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2024/DS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 422/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tất C, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1968
  2. Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

  3. Bị đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm 1955 và bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1957
  4. Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

  5. Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện cũng như lời trình bày tại phiên Tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Tất C và bà Nguyễn Thị G trình bày: Từ năm 2016 đến ngày 20/12/2022, ông S và bà N làm chủ hụi có nợ tiền hụi và tiền vay của ông C và bà G. Đến ngày 20/12/2022, các bên kết nợ bằng giấy vay tiền thể hiện ông S và bà N vay của ông C và bà G 205.000.000 đồng, lãi suất 1,25%/tháng, thời hạn vay 3 tháng. Đến hạn, ông S và bà N có trả lãi đến ngày 20/12/2023 nhưng không trả gốc. Do đó, ông C và bà G khởi kiện yêu cầu ông S và bà N liên đới trả 205.000.000 đồng tiền gốc và lãi suất tính từ 22/12/2023 đến ngày 22/6/2024 là 06 tháng, với mức lãi suất 1,25%/tháng thành tiền là 15.375.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 220.375.000 đồng. Chứng cứ ông C và bà G cung cấp bản chính là giấy vay tiền ngày 20/12/2022.

Bị đơn ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị N trình bày:

Xác định từ năm 2016 đến ngày 20/12/2022, ông S và bà N làm chủ hụi có nợ tiền hụi và tiền vay của ông C và bà G. Đến ngày 20/12/2022, các bên kết nợ bằng giấy vay tiền thể hiện ông S và bà N vay của ông C và bà G 205.000.000 đồng, lãi suất 1,25%/tháng, thời hạn vay 3 tháng. Đến hạn, ông S và bà N có trả lãi đến ngày 20/12/2023 với mức lãi suất 1,25%/tháng nhưng chưa trả tiền gốc. Nay, ông C và bà G khởi kiện yêu cầu ông S và bà N liên đới trả 205.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi 15.375.000 đồng. Tổng cộng tiền gốc và lãi là 220.375.000 đồng. Ông S và bà N đồng ý trả tiền gốc 205.000.000 đồng, không đồng ý trả lãi do bị gãy chân không lao động được.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2024/DS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa đã tuyên:

Áp dụng các Điều 26, Điều 35, Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 357 và Điều 288 của Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tất C và bà Nguyễn Thị G đối với ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị N.

Buộc ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Tất C và bà Nguyễn Thị G 205.000.000 đồng tiền gốc và 15.375.000đồng tiền lãi, tổng cộng gốc và lãi là 220.375.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án đối với các đương sự.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị N có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét sửa một phần bản án sơ thẩm là không tính tiền lãi.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các bên đương sự không đề nghị thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

Về thủ tục: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị N thấy rằng: Căn cứ vào các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời trình bày, tranh luận trong quá trình giải quyết vụ án và tại tòa. Thấy rằng, ông S và bà N kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo. Đề nghị, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông S và bà N.

Tuy nhiên, ông S và bà N có đơn xin miễn án phí. Xét thấy ông S và Nho thuộc đối tượng là người cao tuổi, nên đề nghị miễn án phí.

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục:
    1. Đơn kháng cáo của ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị N được làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
    2. Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị N, thấy rằng: Ông C và bà G yêu cầu ông S và bà N liên đới trả 205.000.000đ tiền gốc và 15.375.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng tiền gốc và lãi là 220.375.000 đồng. Phía ông S và bà N đồng ý trả gốc 205.000.000 đồng, nhưng không đồng ý trả tiền lãi do bị bệnh không lao động được. Nhận thấy, các đương sự đã thống nhất được số tiền nợ gốc phải trả là 205.000.000đồng, các bên chỉ tranh chấp về tiền lãi. Căn cứ vào giấy vay tiền ngày 20/12/2022 (DL) thì lãi suất vay các bên thỏa thuận là 1,25%/tháng. Xét thấy, ông C và bà G yêu cầu ông S, bà N trả số tiền lãi là 15.375.000đồng là phù hợp với thời gian ông S, bà Nho C1 thực hiện nghĩa vụ trả lãi và mức lãi yêu cầu là 1,25 %/tháng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
  3. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tất C và bà Nguyễn Thị G là có căn cứ, do đó không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị N.
  4. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị N thuộc đối tượng là người cao tuổi và ông S và bà N có làm đơn xin miễn án phí. Do đó, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Bộ luật Tố tụng dân sự, cho ông S và bà N được miễn án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị N.

Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 55/2024/DS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39 và Điều 147, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 357 và Điều 288 của Bộ luật Dân sự; điểm đ, khoản 1 Điều 12, Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tất C và bà Nguyễn Thị G đối với ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị N về việc tranh chấp hợp đồng vay.
    1. Buộc ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Tất C và bà Nguyễn Thị G tổng số tiền 220.375.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu, ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), trong đó tiền gốc 205.000.000đồng và tiền lãi 15.375.000đồng.
    2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị N được miễn án phí
    2. Ông Nguyễn Tất C và bà Nguyễn Thị G không phải chịu án phí. Hoàn trả cho ông C và bà G 5.125.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0003828 ngày 05/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Hóa.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị N được miễn án phí phúc thẩm.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • -TAND cấp cao tại TP . HCM;
  • -VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Thạnh Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Thạnh Hóa;
  • - Các đương sự
  • - Lưu HS, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Cẩm Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 441/2024/DS-PT ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 441/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, sửa một phần bản án ST về án phí
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger