|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 441/2023/DS-PT Ngày: 17/11/2023 V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Minh Đạt
Các Thẩm phán: Ông Bùi Quang Sơn
Ông Nguyễn Thế Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 259/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số: 84/2023/DS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3370/2023/QĐ-PT ngày 05 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1957;
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T là ông Lê Hữu T1, sinh năm 1984, địa chỉ: Số E, ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T là ông Nguyễn Văn T2 – Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn T2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B, địa chỉ: Số A, khu phố B, phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
-
Bị đơn: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1967;
Địa chỉ: Ấp T, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của bà N là ông Đỗ Hiệp P, sinh năm 1995, địa chỉ: Số A, ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Huỳnh Văn T3, sinh năm 1949;
- Ông Huỳnh N1, sinh năm 1978;
- Ông Huỳnh Trúc P1, sinh năm 1976;
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre.
- Bà Huỳnh Thanh P2, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Số B, ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Bà Huỳnh Diễm L, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Số C, đường P, khóm A, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Bà Bùi Thị M, sinh năm 1965;
Địa chỉ: Số F, ấp T, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1955;
- Bà Bùi Bé P3, sinh năm 1978;
Cùng hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Chỗ ở hiện nay: Số A, đường Đ, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Bùi Văn T4, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Tổ V, thôn N, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T4 là ông Lê Hữu T1, sinh năm 1984, địa chỉ: Số E, ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà M, ông T4, bà P3 là ông Nguyễn Văn T2 – Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn T2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B, địa chỉ: Số A, khu phố B, phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Bà Dương Thị Bích L1 (Bé H), sinh năm 1980;
- Ông Trần Ngọc T5, sinh năm 1977;
- Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1954;
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre.
- Ông Nguyễn Văn P4, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Ông Nguyễn Hữu T6, sinh năm 1996;
- Ông Nguyễn Hữu T7, sinh năm 1965;
- Bà Nguyễn Thị Huỳnh L2, sinh năm 1995;
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T6, ông T7 là ông Đỗ Hiệp P, sinh năm 1995, địa chỉ: Số A, ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Người kháng cáo:
Bà Bùi Thị T, sinh năm 1957;
Bà Bùi Thị M, sinh năm 1965;
Ông Bùi Văn T4, sinh năm 1982;
Bà Bùi Bé P3, sinh năm 1978;
Ông Huỳnh Trúc P1, sinh năm 1976;
Ông Huỳnh N1, sinh năm 1978;
Ông Huỳnh Văn T3, sinh năm 1949;
Bà Bùi Thị N, sinh năm 1967;
Bà Huỳnh Diễm L, sinh năm 1972;
Bà Huỳnh Thanh P2, sinh năm 1970;
Ông T1, bà N, ông P, bà M, ông N1, ông P1, bà L1, Luật sư T2 có mặt.
Ông T3, bà P2, bà L, bà L2 có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Bà N2, bà P3, ông T5, ông R, ông P4 yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Bùi Thị T là ông Lê Hữu T1 trình bày:
Sinh thời cụ Bùi Văn K (chết năm 2013) có 02 vợ là cụ Phạm Thị X (chết năm 1957) và cụ Nguyễn Thị N3 (chết năm 2014).
Cụ K, cụ X có 03 người con gồm:
Bà Bùi Thị V (chết năm 2015), có chồng là ông Huỳnh Văn T3 và 04 con là ông Huỳnh Trúc P1, ông Huỳnh N1, bà Huỳnh Thanh P2, bà Huỳnh Diễm L;
Ông Bùi Văn T8 (chết năm 1984), có vợ là bà Nguyễn Thị N2 và 02 con là ông Bùi Văn T4, bà Bùi Bé P3;
Bà Bùi Thị T.
Cụ K, cụ N3 có 02 người con là bà Bùi Thị N và bà Bùi Thị M.
Khi còn sống cụ K có tạo lập được khối tài sản là phần đất thửa 205, tờ bản đồ số 14, diện tích 7.095m² (có 300m² đất ONT) do hộ cụ Bùi Văn K đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2019, Nhà nước thu hồi một phần thửa đất số 205, diện tích 629,7m² để mở đường huyện 173 nên phần đất nêu trên được tách thành thửa số 369, diện tích 4.795,2m² (có 300m² đất ONT) và thửa 370, diện tích 1.669,8m², đất cây lâu năm. Cụ K, cụ N3, cụ X chết đều không để lại di chúc. Toàn bộ phần đất nêu trên hiện nay do bà Bùi Thị N đang quản lý, sử dụng và hưởng huê lợi.
Khi Nhà nước thu hồi đất, bà N đứng ra nhận và giữ tiền bồi thường, thu hồi đất với số tiền là 207.965.000 đồng. Số tiền này, bà N đã chia cho các đồng thừa kế gồm bà T, bà M, ông T4 (con ông Bùi Văn T8) và ông P1 (con bà Bùi Thị V) mỗi người 20.000.000 đồng. Số tiền còn lại là 127.965.000 đồng. Bà T yêu cầu chia thành 05 phần, bà T được nhận một phần với số tiền 21.593.000 đồng, chia cho bà M và những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Bùi Văn T8, bà Bùi Thị V mỗi đồng thừa kế là 21.593.000 đồng.
Phần đất thửa 370, diện tích 1.669,8m² (đo đạc thực tế gồm thửa 370a, diện tích 296,9m²; thửa 370b, diện tích 693,6m²; thửa 370c, diện tích 645,7m²) cùng tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre. Bà T yêu cầu được nhận thừa kế phần đất thuộc thửa 370a + 370b, tờ bản đồ số 14, diện tích 990,4m², tọa lạc tại xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre. Trên đất có 03 căn nhà (01 căn nhà của cha mẹ bà T là cụ K, cụ N3 để lại, 01 căn nhà của bà N và 01 căn nhà của ông T5). Bà T yêu cầu được nhận căn nhà của cha mẹ để lại làm nhà thờ chung. Đối với căn nhà và các tài sản khác có trên đất của bà N thì bà T đồng ý hoàn trả giá trị cho bà N theo giá Hội đồng định giá đã định. Căn nhà của ông T5 yêu cầu ông T5 tự tháo dỡ, di dời đi nơi khác. Trường hợp bà T được nhận thừa kế phần đất nhiều hơn, bà đồng ý hoàn trả giá trị đất cho người được nhận ít hơn. Bà T đồng ý bồi hoàn giá trị cây trồng trên phần đất được nhận cho bà N đối với các cây do bà N trồng theo giá Hội đồng định giá đã định.
Phần đất thửa số 369, tờ bản đồ số 14, diện tích 4.795,2m², có 300m² đất ONT, bà T đồng ý tách phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 316,5m², thuộc thửa 369c để làm đất thổ mộ chung. Phần đất còn lại có diện tích 4.153,1m² gồm các thửa 369a (819,9m²); thửa 369b (778,7m²); thửa 369d (1.052m²) và thửa 369e (1.502,5m²). Riêng thửa 369e, cụ N3 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn R nên bà T không yêu cầu phân chia thừa kế trong vụ kiện này, bà T sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
Đối với yêu cầu phản tố của bà N là không có căn cứ nên bà T không đồng ý.
Bà T thống nhất kết quả đo đạc, định giá và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án không yêu cầu đo đạc, định giá lại.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Bùi Thị N là ông Đỗ Hiệp P (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hữu T6, ông Nguyễn Hữu T7, bà Nguyễn Thị Huỳnh L2) có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nhưng tại bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án ông trình bày:
Cha mẹ bà N là cụ Bùi Văn K (chết năm 2013) và cụ Nguyễn Thị N3 (chết năm 2014). Cụ K có vợ trước là cụ Phạm Thị X (chết năm 1957).
Cụ K, cụ N3 có 02 người con là bà Bùi Thị N và bà Bùi Thị M.
Cụ K, cụ X có 03 người con là:
Bà Bùi Thị V (chết năm 2015) có chồng là ông Huỳnh Văn T3 và 04 con là ông Huỳnh Trúc P1, ông Huỳnh N1, bà Huỳnh Thanh P2, bà Huỳnh Diễm L;
Ông Bùi Văn T8 (chết năm 1984), có vợ là bà Nguyễn Thị N2 và 02 con là ông Bùi Văn T4 và bà Bùi Bé P3;
Bà Bùi Thị T.
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cụ K, cụ N3 được Nhà nước cấp vào năm 1976. Cụ N3 về chung sống với cụ K từ năm 1962. Cụ K, cụ N3 chết không có để lại di chúc. Bà N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T và yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đồng thời bà N có yêu cầu phản tố, cụ thể như sau:
Bà N yêu cầu được nhận thừa kế phần đất có diện tích là 2.552m². Để thuận tiện cho việc quản lý, sử dụng đất bà N yêu cầu được nhận toàn bộ thửa đất số 370, diện tích theo đo đạc thực tế là 1.636,2m² (gồm thửa 370a, diện tích 296,9m²; thửa 370b, diện tích 693,6m², thửa 370c, diện tích 645,7m²) và một phần thửa đất số 369, tờ bản đồ số 14, diện tích 882,2m² (có 100m² đất ONT). Bà N yêu cầu để thửa đất số 369d, diện tích 154,5m² làm đất thổ mộ chung. Năm 2012, khi còn sống cụ K, cụ N3 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn R phần đất có diện tích khoảng 2.000m² (đo đạc thực tế là 1.502,5m², thuộc thửa 369g). Việc chuyển nhượng có làm giấy tay do ông R giữ, có ông Ngô Văn N4 là người viết giấy làm chứng. Cụ K, cụ N3 đã giao đất cho ông R quản lý, sử dụng canh tác từ đó đến nay. Phần đất chuyển nhượng cho ông R nguyên đơn và các đồng thừa kế khác không có tranh chấp trong vụ kiện này nên bà N không có ý kiến. Phần đất còn lại của thửa 369, bà N đồng ý chia thừa kế cho các đồng thừa kế. Trường hợp phần đất của bà N được nhận thừa kế nhiều hơn, bà N đồng ý bồi hoàn giá trị chênh lệch cho người được nhận ít hơn và ngược lại.
Trên thửa đất số 370 có 01 căn nhà thờ của cụ K, cụ N3 xây cất. Bà N đồng ý ai được nhận phần đất có căn nhà thờ của cụ K, cụ N3 thì được quản lý, sử dụng căn nhà này, bà N không có tranh chấp. Đối với căn nhà và các công trình vật kiến trúc khác của bà N, ông T7 và ông T5, ai nhận phần đất này phải có trách nhiệm hoàn trả giá trị cho bà N, ông T7 và ông T5 theo giá Hội đồng định giá đã định.
Bà N chung sống với cụ K, cụ N3 từ nhỏ. Khi 02 cụ lớn tuổi, bà N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 cụ. Khi 02 cụ chết, bà N là người đứng ra tổ chức ma chay, mai táng cho 02 cụ. Tổng cộng chi phí ma chay, mai táng của 02 cụ là 450.000.000 đồng. Số tiền này do bà N chi trả toàn bộ nên bà N yêu cầu bà T, bà M, những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Bùi Văn T8 (gồm bà Bùi Bé P3, ông Bùi Văn T4, bà Nguyễn Thị N2) và bà Bùi Thị V (gồm ông Huỳnh Văn T3, ông Huỳnh N1, ông Huỳnh Trúc P1, bà Huỳnh Thanh P2, bà Huỳnh Diễm L) mỗi đồng thừa kế có trách nhiệm trả lại cho bà N số tiền là 90.000.000 đồng.
Đối với số tiền 207.965.000 đồng, Nhà nước bồi thường, thu hồi diện tích 629,7m², thuộc một phần thửa đất số 205 (thửa cũ) để mở đường huyện 173. Số tiền này, bà N và các anh chị em đã thỏa thuận chia cho mỗi người 20.000.000 đồng. Thỏa thuận miệng không có làm giấy tờ, bà N đã giao đủ tiền cho bà T, bà M, ông T4, bà P3 (con ông Bùi Văn T8) và ông P1 (con bà Bùi Thị V) mỗi người 20.000.000 đồng. Số tiền còn lại 127.965.000 đồng bà T, bà M, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Bùi Văn T8, bà Bùi Thị V yêu cầu chia thừa kế, bà N không đồng ý do bà N đã chia tiền bồi thường đất xong, số tiền còn lại là tiền hỗ trợ tái định cư và hoa màu trên đất là của bà N.
Bà N thống nhất kết quả đo đạc, định giá và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án không yêu cầu đo đạc, định giá lại.
Theo đơn yêu cầu độc lập, đơn yêu cầu độc lập sửa đổi, bổ sung, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị M là ông Lê Hữu T1 trình bày:
Bà M thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về mối quan hệ gia đình và nguồn gốc đất. Bà M có yêu cầu độc lập, yêu cầu được nhận di sản thừa kế của cụ K, cụ N3 chết để lại. Cụ thể: Bà M yêu cầu được nhận phần đất thuộc thửa số 370c, tờ bản đồ số 14, diện tích theo đo đạc thực tế là 645,7m², cùng toàn bộ cây trồng trên đất. Trường hợp kỷ phần thừa kế của bà M được nhận ít hơn các đồng thừa kế khác, bà M yêu cầu được nhận giá trị chênh lệch theo giá Hội đồng định giá đã định. Riêng thửa 369g, diện tích 1.502,5m², khi còn sống cụ N3 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn R nên bà M không yêu cầu phân chia thừa kế trong vụ kiện này và sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác. Bà M yêu cầu được nhận một phần tiền đền bù, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi phần đất diện tích là 629,7m², thuộc một phần thửa đất số 205 (thửa mới 369, 370) với số tiền là 21.593.000 đồng. Bà M không đồng ý với yêu cầu phản tố của bà N và đồng ý bồi hoàn giá trị cây trồng có trên phần đất được nhận cho bà N đối với các cây do bà N trồng theo giá Hội đồng định giá đã định.
Bà M thống nhất kết quả đo đạc, định giá và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án không yêu cầu đo đạc, định giá lại.
Theo đơn yêu cầu độc lập, đơn yêu cầu độc lập sửa đổi, bổ sung, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn T4 là ông Lê Hữu T1 trình bày:
Ông T4 thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về mối quan hệ gia đình và nguồn gốc đất. Ông T4 cùng các đồng thừa kế của ông Bùi Văn T8 gồm bà Nguyễn Thị N2, bà Bùi Bé P3 có yêu cầu độc lập, yêu cầu được nhận di sản thừa kế của cụ K, cụ N3 chết để lại. Cụ thể: Ông T4 cùng bà N2, bà P3 yêu cầu được nhận phần đất thuộc thửa số 369d, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.052m² (có 83m² đất ONT), cùng toàn bộ cây trồng trên đất. Trường hợp kỷ phần thừa kế của ông T4 cùng bà N2, bà P3 được nhận nhiều hơn các đồng thừa kế khác thì các ông bà đồng ý hoàn trả giá trị chênh lệch theo giá Hội đồng định giá đã định và ngược lại. Riêng thửa 369g, diện tích 1.502,5m², khi còn sống cụ N3 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn R nên ông T4 cùng bà N2, bà P3 không yêu cầu phân chia thừa kế trong vụ kiện này và sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác. Ông T4 cùng bà N2, bà P3 yêu cầu được nhận một phần tiền đền bù, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi phần đất diện tích là 629,7m², thuộc một phần thửa đất số 205 (thửa mới 369, 370) với số tiền là 21.593.000 đồng. Ông T4 cùng bà N2, bà P3 không đồng ý với yêu cầu phản tố của bà N và đồng ý bồi hoàn giá trị cây trồng có trên phần đất được nhận cho bà N đối với các cây do bà N trồng theo giá Hội đồng định giá đã định.
Ông T4 thống nhất kết quả đo đạc, định giá và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án không yêu cầu đo đạc, định giá lại.
Theo đơn yêu cầu độc lập, đơn sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu độc lập, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Trúc P1 là ông Lê Hữu T1 trình bày:
Ông P1 thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về mối quan hệ gia đình và nguồn gốc đất. Ông P1 cùng các đồng thừa kế của bà Bùi Thị V gồm ông Huỳnh Văn T3, ông Huỳnh N1, bà Huỳnh Thanh P2, bà Huỳnh Diễm L có yêu cầu độc lập, yêu cầu được nhận di sản thừa kế của cụ K, cụ N3 chết để lại. Cụ thể: Ông P1 cùng ông T3, ông N1, bà P2, bà L yêu cầu được nhận phần đất thuộc thửa số 369a, tờ bản đồ số 14, diện tích 819,9m² (có 83m² đất ONT), cùng toàn bộ cây trồng trên đất. Trường hợp kỷ phần thừa kế của ông P1 cùng ông T3, ông N1, bà P2, bà L được nhận nhiều hơn các đồng thừa kế khác thì ông P1 đồng ý hoàn trả giá trị chênh lệch theo giá Hội đồng định giá đã định và ngược lại. Riêng thửa 369g, diện tích 1.502,5m², khi còn sống cụ N3 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn R nên ông P1 cùng ông T3, ông N1, bà P2, bà L không yêu cầu phân chia thừa kế trong vụ kiện này và sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác. Ông P1 cùng ông T3, ông N1, bà P2, bà L yêu cầu được nhận một phần tiền đền bù, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi phần đất diện tích là 629,7m², thuộc một phần thửa đất số 205 (thửa mới 369, 370) với số tiền là 21.593.000 đồng. Ông P1 cùng ông T3, ông N1, bà P2, bà L không đồng ý với yêu cầu phản tố của bà N và đồng ý bồi hoàn giá trị cây trồng có trên phần đất được nhận cho bà N đối với các cây do bà N trồng theo giá Hội đồng định giá đã định.
Ông P1 thống nhất kết quả đo đạc, định giá và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án không yêu cầu đo đạc, định giá lại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn T3, bà Huỳnh Thanh P2, bà Huỳnh Diễm L có yêu cầu giải quyết vắng mặt nhưng theo đơn yêu cầu độc lập, đơn thay đổi yêu cầu độc lập các ông bà trình bày:
Các ông bà là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Bùi Thị V. Các ông bà yêu cầu được nhận di sản thừa kế của cụ K, cụ N3 chết để lại mà khi còn sống bà V được hưởng đối với phần di sản này. Cụ thể: Các ông bà cùng ông P1, ông N1 yêu cầu được nhận phần đất thuộc thửa số 369a, tờ bản đồ số 14, diện tích 819,9m² (có 83m² đất ONT), cùng toàn bộ cây trồng trên đất. Trường hợp kỷ phần thừa kế của các ông bà cùng ông N1, ông P1 được nhận nhiều hơn các đồng thừa kế khác thì các ông bà đồng ý hoàn trả giá trị chênh lệch theo giá Hội đồng định giá đã định và ngược lại. Riêng thửa 369g, diện tích 1.502,5m², khi còn sống cụ N3 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn R nên các ông bà cùng ông P1, ông N1 không yêu cầu phân chia thừa kế trong vụ kiện này và sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác. Các ông bà cùng ông P1, ông N1 yêu cầu được nhận một phần tiền đền bù, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi phần đất diện tích là 629,7m², thuộc một phần thửa đất số 205 với số tiền là 21.593.000 đồng.
Theo đơn yêu cầu độc lập, đơn thay đổi yêu cầu độc lập cũng như tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh N1 trình bày:
Ông thống nhất với ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Trúc P1, không có trình bày bổ sung gì thêm. Ông thống nhất kết quả đo đạc, định giá và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án không yêu cầu đo đạc, định giá lại.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N2, bà Bùi Bé P3 có yêu cầu giải quyết vắng mặt nhưng theo đơn yêu cầu độc lập, đơn thay đổi yêu cầu độc lập các bà trình bày:
Các bà là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Bùi Văn T8. Các bà yêu cầu được nhận di sản thừa kế của cụ K, cụ N3 chết để lại mà khi còn sống ông T8 được hưởng đối với phần di sản này. Các bà cùng ông T4 yêu cầu được nhận phần đất thuộc thửa số 369d, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.052m² (có 83m² đất ONT), cùng toàn bộ cây trồng trên đất. Trường hợp kỷ phần thừa kế của các bà cùng ông T4 được nhận nhiều hơn các đồng thừa kế khác thì các bà cùng ông T4 đồng ý hoàn trả giá trị chênh lệch theo giá Hội đồng định giá đã định và ngược lại. Riêng thửa 369g, diện tích 1.502,5m², khi còn sống cụ N3 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn R nên các bà không yêu cầu phân chia thừa kế trong vụ kiện này và sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác. Các bà cùng ông T4 yêu cầu được nhận một phần tiền đền bù, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi phần đất diện tích là 629,7m², thuộc một phần thửa đất số 205 với số tiền là 21.593.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Bích L1 trình bày:
Bà có nhận chuyển nhượng của bà N một phần đất có diện tích khoảng 1.000m², thuộc một phần thửa đất số 370 nhưng chưa làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất. Bà không có tranh chấp, không có yêu cầu Tòa án giải quyết gì trong vụ kiện nêu trên. Bà và bà N sẽ tự thỏa thuận giải quyết bên ngoài nếu không thỏa thuận được bà sẽ khởi kiện bà N bằng một vụ kiện khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn R có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, tuy nhiên theo đơn yêu cầu độc lập và trong quá trình giải quyết vụ án có lời trình bày như sau:
Năm 2012 ông có nhận chuyển nhượng của cụ K, cụ N3 một phần đất có diện tích khoảng 2.000m², thuộc một phần thửa đất số 369 (đo đạc thực tế là thửa 369g, diện tích 1.502,5m²), có làm giấy tay mua bán nhưng đã thất lạc, giá mua 75.000.000 đồng/công. Ông đã trả cho cụ K, cụ N3 số tiền 140.000.000 đồng, còn lại 10 triệu đồng, ông đồng ý trả cho các đồng thừa kế của cụ K, cụ N3 số tiền còn lại. Ông đã nhận đất và quản lý, sử dụng từ năm 2012 đến nay không có ai tranh chấp. Ông yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông với cụ N3, cụ K đối với phần đất nêu trên để ông thực hiện thủ tục sang tên quyền sử dụng đất. Do nguyên đơn và các đồng thừa kế khác không yêu cầu phân chia thừa kế đối với phần đất này nên ông xin rút yêu cầu độc lập và sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P4 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nhưng có lời khai như sau:
Ông có nhận chuyển nhượng của bà N một phần đất ngang 08m x dài 33,3m, thuộc một phần thửa đất số 370 nhưng chưa làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất. Ông không có tranh chấp không có yêu cầu Tòa án giải quyết gì trong vụ kiện nêu trên. Ông và bà N sẽ tự thỏa thuận giải quyết bên ngoài nếu không thỏa thuận được ông sẽ khởi kiện bà N bằng một vụ kiện khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc T5 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nhưng có lời khai như sau:
Ông được ông Nguyễn Văn P4 cho cất nhà ở nhờ trên phần đất ông P4 nhận chuyển nhượng của bà N, thuộc một phần thửa đất số 370, tọa lạc tại xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre. Ông không có tranh chấp không có yêu cầu Tòa án giải quyết gì trong vụ kiện nêu trên.
Do hòa giải không thành nên Tòa án nhân dân huyện G đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 84/2023/DS-ST của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Bến Tre đã quyết định:
Tuyên xử:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị T; Một phần yêu cầu độc lập của ông Bùi Văn T4, bà Bùi Bé P3, ông Huỳnh Văn T3, ông Huỳnh Trúc P1, ông Huỳnh N1, bà Huỳnh Thanh P2, bà Huỳnh Diễm L; Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Bùi Thị M; Một phần yêu cầu phản tố của bà Bùi Thị N về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất số 369, 370, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre do hộ cụ Bùi Văn K đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Buộc người được nhận thừa kế nhiều hơn có trách nhiệm hoàn trả giá trị chênh lệch cho người được nhận thừa kế ít hơn.
- Buộc bà Bùi Thị N chia cho bà Bùi Thị T được nhận thừa kế phần đất có diện tích 471,6m² (có 50m² đất ONT và 421,6m² đất CLN), thuộc thửa 369a, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Buộc bà T có trách nhiệm hoàn trả giá trị cây trồng trên đất cho bà N với số tiền là 5.720.000đ (Năm triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng). Bà T được quyền sở hữu toàn bộ cây trồng có trên phần đất được nhận.
Buộc bà T có trách nhiệm hoàn trả giá trị đất chênh lệch được nhận thừa kế nhiều hơn cho bà Bùi Thị M với số tiền là 302.010.000₫ (Ba trăm lẻ hai triệu không trăm mười nghìn đồng).
- Chia cho bà Bùi Bé P3, ông Bùi Văn T4 được nhận thừa kế phần đất có diện tích 573m² (có 50m² đất ONT và 523m² đất CLN), thuộc thửa 369f, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Buộc bà Bùi Bé P3, ông Bùi Văn T4 có trách nhiệm hoàn trả giá trị cây trồng trên đất cho bà N với số tiền là 11.143.000₫ (Mười một triệu một trăm bốn mươi ba nghìn đồng). Bà P3, ông T4 được quyền sở hữu toàn bộ cây trồng có trên phần đất được nhận.
Buộc bà Bùi Bé P3, ông Bùi Văn T4 có trách nhiệm hoàn trả giá trị đất chênh lệch được nhận thừa kế nhiều hơn cho bà Bùi Thị M với số tiền là 606.210.000₫ (Sáu trăm lẻ sáu triệu hai trăm mười nghìn đồng).
- Chia cho ông Huỳnh Văn T3, ông Huỳnh Trúc P1, ông Huỳnh N1, bà Huỳnh Diễm L, bà Huỳnh Thanh P2 được nhận thừa kế phần đất có 769,1m² (có 50m² đất ONT và 719,1m² đất CLN), thuộc thửa 369e, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Buộc ông Huỳnh Văn T3, ông Huỳnh Trúc P1, ông Huỳnh N1, bà Huỳnh Diễm L, bà Huỳnh Thanh P2 có trách nhiệm hoàn trả giá trị cây trồng trên đất cho bà N với số tiền là 12.562.000₫ (Mười hai triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn đồng). Ông T3, ông P1, ông N1, bà L, bà P2 được quyền sở hữu toàn bộ cây trồng có trên phần đất được nhận.
Buộc ông Huỳnh Văn T3, ông Huỳnh Trúc P1, ông Huỳnh N1, bà Huỳnh Diễm L, bà Huỳnh Thanh P2 có trách nhiệm hoàn trả giá trị đất chênh lệch được nhận thừa kế nhiều hơn cho bà Bùi Thị M với số tiền là 1.083.780.000đ (Một tỷ không trăm tám mươi ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng).
- Chia cho bà Bùi Thị M được nhận thừa kế phần đất có diện tích 634,3m² (có 50m² đất ONT và 584,3m² đất CLN), thuộc thửa 369b, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Buộc bà Bùi M có trách nhiệm hoàn trả giá trị cây trồng trên đất cho bà N với số tiền là 4.210.000đ (Bốn triệu hai trăm mười nghìn đồng). Bà M được quyền sở hữu toàn bộ cây trồng có trên phần đất được nhận.
- Chia cho bà Bùi Thị N được nhận thừa kế phần đất có diện tích tổng cộng là 2.003,2m², thuộc thửa 369c, diện tích 367m² (có 100m² đất ONT và 327 đất CLN); thửa đất số 370a (296,9m²); thửa 370b (693,6m²) và thửa số 370c (645,7m²), cùng tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Buộc ông Huỳnh Văn T3, ông Huỳnh Trúc P1, ông Huỳnh N1, bà Huỳnh Diễm L, bà Huỳnh Thanh P2 có trách nhiệm hoàn trả giá trị đất chênh lệch được nhận thừa kế nhiều hơn cho bà Bùi Thị N với số tiền là 110.730.000đ (Một trăm mười triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng).
Bà N được quyền sở hữu toàn bộ các căn nhà (trừ căn nhà của ông Trần Ngọc T5), công trình vật kiến trúc và cây trồng có trên các phần đất được nhận.
(Tất cả có kết quả đo đạc thửa đất kèm theo).
Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các bên đương sự theo nội dung bản án đã tuyên, khi các bên đương sự có yêu cầu.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị T; Một phần yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Văn T3, bà Huỳnh Thanh P2, bà Huỳnh Diễm L, ông Huỳnh N1, ông Huỳnh Trúc P1 và ông Bùi Văn T4, bà Bùi Bé P3 về việc yêu cầu chia di sản thừa kế do cụ N3 chết để lại.
Tạm giao cho bà Bùi Thị N tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 154,5m², thuộc thửa 369d, tờ bản đồ số 14, tọa lạc xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre cùng toàn bộ cây trồng trên đất dùng làm đất thổ mộ.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị N2 về việc yêu cầu được nhận thừa kế cùng với bà Bùi Bé P3, ông Bùi Văn T4.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Bùi Bé P3, bà Nguyễn Thị N2 và ông Huỳnh Văn T3, bà Huỳnh Diễm L, bà Huỳnh Thanh P2 về việc yêu cầu bà Bùi Thị N chia số tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng mỗi đồng thừa kế được nhận số tiền 21.593.000 đồng.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị T và yêu cầu độc lập của bà Bùi Thị M, ông Huỳnh N1, ông Huỳnh Trúc P1, ông Bùi Văn T4 về việc yêu cầu bà Bùi Thị N chia số tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng cho mỗi đồng thừa kế là 21.593.000 đồng.
Đình chỉ yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn R về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông R với cụ K, cụ N3 đối với phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích là 1.502,5m², thuộc thửa 369g, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Chi phí tố tụng tổng cộng là 38.583.000₫ (Ba mươi tám triệu, năm trăm tám mươi ba nghìn đồng). Bà T, bà M, ông T4, bà Bé P3 và ông T3, ông N1, ông P1, bà L, bà P2 mỗi đồng thừa kế phải chịu số tiền là 6.265.000₫ (Sáu triệu, hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng); bà N phải chịu là 12.530.000₫ (Mười hai triệu, năm trăm ba mươi nghìn đồng); Ông R phải chịu là 1.571.000đ (Một triệu, năm trăm bảy mươi mốt nghìn đồng). Bà N, bà T, ông R đã tạm ứng nộp xong.
Buộc bà M có trách nhiệm hoàn trả cho bà N số tiền 6.265.000đ (Sáu triệu, hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
Buộc ông T4, bà Bé P3 có trách nhiệm hoàn trả cho bà T số tiền 6.265.000₫ (Sáu triệu, hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
Buộc ông T3, ông N1, ông P1, bà L, bà P2 có trách nhiệm hoàn trả cho bà T số tiền 6.265.000đ (Sáu triệu, hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Bùi Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 45.383.700đ (Bốn mươi lăm triệu, ba trăm tám mươi ba nghìn, bảy trăm đồng). Tuy nhiên, do bà T là người cao tuổi nên được miễn nộp toàn bộ tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Bà Bùi Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 109.899.820đ (Một trăm lẻ chín triệu, tám trăm chín mươi chín nghìn, tám trăm hai mươi đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp tổng cộng là 5.549.000đ (Năm triệu, năm trăm bốn mươi chín nghìn đồng) theo các biên lai thu số 0007200 và số 0007197 cùng ngày 21/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bến Tre. Bà M còn phải nộp tiếp số tiền 104.350.820₫ (Một trăm lẻ bốn triệu, ba trăm năm mươi nghìn, tám trăm hai mươi đồng).
- Bà Bé P3, ông T4 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 45.383.700đ (Bốn mươi lăm triệu, ba trăm tám mươi ba nghìn, bảy trăm đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông bà đã nộp tổng cộng là 8.799.000₫ (Tám triệu, bảy trăm chín mươi chín nghìn đồng) theo các biên lai thu số 0007198 và số 0007199 cùng ngày 21/4/2022, số 0007213 ngày 27/4/2022, số 0003363 ngày 19/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bến Tre. Bà P3, ông T4 còn phải nộp tiếp số tiền 36.584.700đ (Ba mươi sáu triệu, năm trăm tám mươi bốn nghìn, bảy trăm đồng).
- Ông P1, ông N1, bà L, bà P2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 36.306.960₫ (Ba mươi sáu triệu, ba trăm lẻ sáu nghìn, chín trăm sáu mươi đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tổng cộng là 8.040.000đ (Tám triệu, không trăm bốn mươi nghìn đồng) theo các biên lai thu số 0004770 ngày 10/3/2022 và số 0003364 ngày 19/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bến Tre. Ông P1, ông N1, bà L, bà P2 còn phải nộp tiếp số tiền 28.266.960₫ (Hai mươi tám triệu, hai trăm sáu mươi sáu nghìn, chín trăm sáu mươi đồng).
- Bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 114.120.330đ (Một trăm mười bốn triệu, một trăm hai mươi nghìn, ba trăm ba mươi đồng) và án phí đối với phần yêu cầu phản tố không được chấp nhận là 22.000.000₫ (Hai mươi hai triệu đồng). Tổng cộng là 136.120.330đ (Một trăm ba mươi sáu triệu, một trăm hai mươi nghìn, ba trăm ba mươi đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp tổng cộng là 18.500.000₫ (Mười tám triệu, năm trăm nghìn đồng) theo các biên lai thu số 0007186 ngày 20/4/2022, số 0008074 ngày 25/5/2022, số 0008284 và số 0008283 cùng ngày 14/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bến Tre. Bà N còn phải nộp tiếp số tiền 117.620.330đ (Một trăm mười bảy triệu, sáu trăm hai mươi nghìn, ba trăm ba mươi đồng).
Bà Bùi Bé P3, bà Huỳnh Thanh P2, bà Huỳnh Diễm L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền mỗi người là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
Ông N1, ông P1, ông T4, bà M, bà T không phải chịu án phí đối với phần yêu cầu đã được đình chỉ giải quyết.
Bà Nguyễn Thị N2, ông Nguyễn Văn R, ông Huỳnh Văn T3 là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp toàn bộ tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Bùi Thị T, ông Huỳnh Văn T3 được miễn án phí phúc thẩm
Bà Bùi Thị M, ông Bùi Văn T4, bà Bùi Bé P3, ông Huỳnh Trúc P1, ông Huỳnh N1, bà Bùi Thị N, bà Huỳnh Diễm L, bà Huỳnh Thanh P2 mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo các biên lai số 0006095, 0006093, 0006094 cùng ngày 28/7/2023, số 0006088, 0006087, 0006092 ngày 27/7/2023, số 0006120 cùng ngày 04/8/2023, số 0006119 ngày 09/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Minh Đạt |
Bản án số 441/2023/DS-PT ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 441/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo, giữ y án sơ thẩm
