Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 441 /2025/HNGĐ

Ngày: 13 / 10 / 2025

“V/v: Không công nhận quan hệ

vợ chồng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TP HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hà
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Nguyễn Anh Thư
    2. Ông Nguyễn Việt Anh;
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 3 - TP Hà Nội;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tư - Kiểm sát viên;

Ngày 13 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu Vực 3 - TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 411/2025/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 06 năm 2025 về việc: “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 305/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 424/2025/QĐST- HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thanh N - Sinh năm 1994

Nơi cư trú: Tổ I phường T, TP P, Hà Nam (nay là Tổ I, phường P, tỉnh Ninh Bình) có mặt tại phiên toà

-Bị đơn: Anh Võ Tuấn M - Sinh năm 1991

Nơi cư trú: Số H ngách A Đường G, phường T, Hà Nội vắng mặt tại phiên toà

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh N trình bày :

  • + Về tình cảm: Năm 2021 tôi đi lao động ở Myanmar, tại đây tôi có gặp và quen biết anh Võ Tuấn M sinh năm 1991, chúng tôi có quan hệ tìm hiểu và yêu nhau. Từ đầu năm 2022, tôi và anh Võ Tuấn M tự nguyện chung sống với nhau và không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống giữa tôi và anh M thời gian đầu diễn ra bình thường, đến tháng 12 năm 2023, thì phát sinh mâu thuẫn, tranh cãi vì không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, nguyên nhân do anh M bỏ bê, không quan tâm tới tôi và con. Đầu năm 2024, chúng tôi về nước, tôi về cư trú tại Tổ I phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam, còn anh M về nhà bố, mẹ đẻ tại địa chỉ: Số H ngách A đường G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội. Từ đó chúng tôi không còn liên lạc với nhau. Nay tôi xác định tình cảm không còn, mối quan hệ đã rạn nứt không thể hàn gắn để tiến tới hôn nhân, vì vậy, tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội không công nhận quan hệ vợ chồng giữa tôi và anh M.
  • + Về con chung: Quá trình chung sống tại Myanmar chúng tôi có sinh một con chung là cháu Võ Gia K, sinh ngày 22/3/2023, tại bệnh viện M2, Y, M1. Ngày 12/10/2023. Đ tại Myanmar cấp trích lục số 01/2023/TLCMC về việc đăng ký nhận cha con giữa anh Võ Tuấn M và cháu Võ Gia K; đồng thời cấp giấy khai sinh cho cháu Võ Gia K. Từ khi về Việt Nam tới nay, cháu K vẫn đang ở với tôi. Vì vậy, tôi đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 3- Hà Nội khi giải quyết vụ án, ban hành quyết định giao cháu K cho tôi trực tiếp nuôi dưỡng cháu cho đến khi cháu trưởng thành hoặc khi có sự thay đổi khác.
  • + Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi không yêu cầu anh Võ Tuấn M trợ cấp nuôi dưỡng con chung
  • + Về tài sản chung và nhà đất chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • + Về các khoản nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • + Về án phí và lệ phí: Tôi xin tự nguyện chịu án phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Võ Tuấn M đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà tuy nhiên anh M vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gửi cho Tòa án.

Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Toà án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh M. Về con chung, anh chị có một con chung là cháu cháu Võ Gia K, sinh ngày 22/3/2023 chị N đề nghị Toà án giao cháu K cho chị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị N không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nhà đất ở chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Chị N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh M đã được Toà án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng tuy nhiên vẫn vắng mặt tại phiên toà và không có ý kiến gửi Toà án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân Khu Vực 3 – TP Hà Nội đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự;
  • - Về nội dung vụ án: Xét thấy chị Phạm Thị Thanh N và anh Võ Tuấn M chung sống với nhau từ năm 2022, không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật do đó quan hệ hôn nhân không được pháp luật thừa nhận. Vợ chồng đã có 01 con chung là cháu Võ Gia K - sinh ngày 22/3/2023. Quá trình chung sống đến tháng 12 năm 2023, thì phát sinh mâu thuẫn, hai bên xảy ra tranh cãi vì không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, nguyên nhân do anh M bỏ bê, không quan tâm tới chị N và con. Chị N và anh M đã không chung sống và liên lạc với nhau từ đầu năm 2024 cho đến nay. Nay chị Phạm Thị Thanh N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh Võ Tuấn M là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 220; Điều 227; Điều 238; Điều 266; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị Thanh N, tuyên bố quan hệ giữa chị Phạm Thị Thanh N và anh Võ Tuấn M không phải là quan hệ vợ chồng.
  • -Về con chung: Giao con chung là Võ Gia K, sinh ngày 22/3/2023 cho chị Phạm Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành hoặc khi có sự thay đổi khác. Anh M có quyền qua lại, thăm hỏi, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản
  • -Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung, công nợ chung : Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét
  • -Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
  • - Về quyền kháng cáo : Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  • [1]Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với bị đơn là anh Võ Tuấn M, có nơi cư trú tại Số H ngách A Đường G, phường T, Hà Nội. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu Vực 3 - Hà Nội theo quy định tại khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • [2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Võ Tuấn M đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự
  • [3]Về nội dung vụ án:
    • [3.1]Xét quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thanh N và anh Võ Tuấn M chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2022 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật đây là quan hệ hôn nhân không được pháp luật thừa nhận nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ, chồng.
    • [3.2]Xét yêu cầu không công nhận quan hệ vợ, chồng: Năm 2022 trong quá trình lao động tại Myanmar chị Phạm Thị Thanh N và anh Võ Tuấn M phát sinh tình cảm và tự nguyện chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đến năm 2024, hai bên phát sinh mâu thuẫn và không liên lạc với nhau từ đó đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, chị N đã giao nộp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 457/2025/ UBND- XNTTHN ngày 14/06/2025 do Ủy ban nhân dân phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam cấp trong đó xác nhận chị Phạm Thị Thanh N sinh ngày 29/10/1994 có căn cước công dân số [...] chưa đăng ký kết hôn với ai.
    • -Tại biên bản làm việc ngày 28 tháng 6 năm 2025 UBND phường G, quận H, TP Hà Nội cung cấp thông tin “Qua trao đổi và rà soát sổ Đăng ký kết hôn và sổ cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân hiện đang lưu trữ không có tên anh Võ Tuấn M sinh ngày 23/03/1991 thường trú: Số H ngách A Đường G, phường T, Hà Nội được cấp xác nhận tình trạng hôn nhân với mục đích đăng ký kết hôn”
    • Nay chị Phạm Thị Thanh N có đơn yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ quan hệ vợ chồng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 14; Khoản 2 điều 53 Luật hôn nhân và gia đình 2014 nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Phạm Thị Thanh N và anh Võ Tuấn M là quan hệ vợ, chồng.
  • [4] Về con chung: Quá trình chung sống tại Myanmar chị N và anh M có sinh cháu Võ Gia K vào ngày 22/3/2023 tại bệnh viện M2, Y, M1. Ngày 12/10/2023 Đ tại Myanmar cấp trích lục số 01/2023/TLCMC về việc đăng ký nhận cha con giữa anh Võ Tuấn M và cháu Võ Gia K, đồng thời cấp giấy khai sinh cho cháu Võ Gia K. Hội đồng xét xử nhận định cháu Võ Gia K là con chung giữa chị Phạm Thị Thanh N và anh Võ Tuấn M là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
  • Trên thực tế từ khi sinh cho tới nay, cháu K vẫn đang được chị N trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Vì vậy, việc chị N yêu cầu Hội đồng xét xử giao cháu K cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành là có căn cứ cần chấp nhận.
  • [4.1} Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không yêu cầu anh Võ Tuấn M trợ cấp nuôi dưỡng con chung nên HĐXX không xem xét.
  • [5]Về tài sản chung và nhà đất chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
  • [6}Về các khoản nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
  • [7]Về án phí và lệ phí: Chị N tự nguyện chịu cả án phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 220; Điều 227; Điều 238; Điều 266; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 9; Điều 14; Điều 15; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thanh N

Tuyên bố: Không công nhận quan hệ giữa chị Phạm Thị Thanh N và anh Võ Tuấn M là quan hệ vợ chồng;

  • -Về con chung: Giao con chung là Võ Gia K, sinh ngày 22/3/2023 cho chị Phạm Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
  • Anh Võ Tuấn M có quyền đi lại, trông nom, chăm sóc, con chung không ai có quyền ngăn cản
  • - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phạm Thị Thanh N không yêu cầu anh Võ Tuấn M cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
  • -Về tài sản chung và nhà ở chung: chị Phạm Thị Thanh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
  • - Về công nợ chung : Chị Phạm Thị Thanh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
  • - Về án phí: Chị Phạm Thị Thanh N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ nộp tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2015/0035129 ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự Quận Hoàng Mai, TP Hà Nội Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 - Hà Nội
  • - Về quyền kháng cáo : Nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh N có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Bị đơn anh Võ Tuấn M vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự
  • - Toà án nhân dân TP Hà Nội
  • - Viện kiểm sát ND TP Hà Nội
  • - Phòng thi hành án khu vực 3 - Hà Nội
  • - Lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Thúy Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 441/2025/HNGĐ ngày 13/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TP HÀ NỘI về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 441/2025/HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thanh N Tuyên bố: Không công nhận quan hệ giữa chị Phạm Thị Thanh N và anh Võ Tuấn M là quan hệ vợ chồng; -Về con chung: Giao con chung là Võ Gia K, sinh ngày 22/3/2023 cho chị Phạm Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Anh Võ Tuấn M có quyền đi lại, trông nom, chăm sóc, con chung không ai có quyền ngăn cản - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phạm Thị Thanh N không yêu cầu anh Võ Tuấn M cấp dưỡng , không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét. -Về tài sản chung và nhà ở chung: chị Phạm Thị Thanh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét. - Về công nợ chung : Chị Phạm Thị Thanh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét. - Về án phí: Chị Phạm Thị Thanh N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ nộp tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2015/0035129 ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự Quận Hoàng Mai, TP Hà Nội Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 - Hà Nội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger