TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 441/2024/HS-ST Ngày: 23 – 8 – 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hướng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Kim Sáng và bà Nguyễn Thị Hồng Phượng
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Toàn – Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 432/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 420/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Hiền Q (tên gọi khác: Vũ E), sinh năm 1999, tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: 163/318, tổ F, khu phố E, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: 15/115, tổ A, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn K, sinh năm 1964 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1963; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Bích D, sinh năm 1990 và chưa có con;
Tiền án: 01 – ngày 22/11/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa kết án 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS; Tiền sự: Không có. Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ (giam) ngày 05/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B;
Bị hại: Anh Lê Huỳnh Thanh T, sinh năm 1985 (ĐT: 0375.819.xxx)
Địa chỉ: A khu phố D, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
- Ông Bùi Văn Q1, sinh năm 1958
- Chị Nguyễn Bích D, sinh năm 1990
- Bà Huỳnh Thị Ngọc H, sinh năm 1959
(Bị cáo có mặt, bị hại và người làm chứng vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hiền Q là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, nay tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 25/4/2024, Q đi bộ từ nhà tại địa chỉ: 1, tổ A, khu phố B, phường H, thành phố B đến các hẻm ở phường H, thành phố B tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi đến trước nhà số A, khu phố D, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do anh Lê Huỳnh Thanh T, sinh năm 1985 làm chủ, Q nhìn thấy cửa nhà không khóa, ở trong phòng khách có dựng chiếc xe mô tô biển số 39F1-8816, nhãn hiệu Honda Wave, chìa khóa cắm ở ổ khoá điện của xe và không có người trông coi, nên Q lén lút đi vào trộm cắp xe đẩy ra bên ngoài đường, nổ máy điều khiển xe chạy đến phường B, thành phố B tìm nơi để tiêu thụ. Khi Q đi đến tiệm sửa xe không tên tại địa chỉ K, khu phố T, phường B, thành phố B do ông Bùi Văn Q1, sinh năm 1958 làm chủ thì gặp anh Nguyễn Tấn S, sinh năm 1985, ngụ tại phường H, thành phố B (A S ở gần nhà Q) đang sửa xe tại đây. Q nói với anh S chiếc xe mô tô biển số 39F1-8816 của Q, do đang cần tiền nên nhờ cầm giúp 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), vài ngày sau sẽ chuộc lại thì được anh S đồng ý. Sau đó, Q bỏ nhà đi lang thang và tiêu xài hết số tiền cầm xe trên.
Sau khi chị Nguyễn Bích D, sinh năm 1990 (Vợ của Q) biết được thông tin Q trộm cắp tài sản thì tìm hiểu và biết được chiếc xe mô tô Q trộm cắp của anh T đang cầm cho anh Nguyễn Tấn S, nên chị D gặp anh S chuộc lại xe và giao nộp cho Công an phường H, thành phố B.
Ngày 05/5/2024, Q đến Công an phường H đầu thú. Công an phường H lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
Vật chứng vụ án gồm:
Xe mô tô biển số 39F1-8816, nhãn hiệu Honda Wave, số khung 031948, số máy 0037002 là tài sản của anh Lê Huỳnh Thanh T bị Q chiếm đoạt. Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại xe cho anh T.
01 USB chứa hình ảnh vụ trộm cắp, lưu cùng hồ sơ vụ án.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 131/KL-HĐĐGTS, ngày 08/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: Xe mô tô biển số 39F1-8816 trị giá là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
Về dân sự: Anh Lê Huỳnh Thanh T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường; Anh Nguyễn Tấn S không yêu cầu bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 438/CT-VKSBH ngày 25/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Hiền Q về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Đồng thời, tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52-Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Q từ 12 tháng tù đến 14 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận về hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án.
[3] Đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 25/4/2024, bị cáo Q đi bộ đến nhà riêng của bị hại T ở số 163/48C Khu phố D, phường H, TP ., tỉnh Đồng Nai. Q phát hiện cửa nhà không khóa, bên trong phòng khách dựng một xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 39F1-8816 (trị giá 5.000.000đ) có cắm sẵn chìa khóa trong ổ khóa điện. Q lén lút dẫn xe mô tô ra ngoài đường rồi tẩu thoát. Do đó, hành vi của bị cáo Q đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” - tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, giáo dục bị cáo tôn trọng pháp luật. Đồng thời còn nhằm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[5] Xét về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tái phạm. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhận thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo đầu thú. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Về dân sự trong vụ án: Bị hại không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hiền Q (Vũ em) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hiền Q 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2024.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Hướng |
Bản án số 441/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 441/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hiền Quang trộm cắp tài sản
