TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 441/2024/DS-PT Ngày: 22 - 8 - 2024 V/v tranh chấp: “Tranh chấp chia thừa kế theo pháp luật, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đạt
Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Tuyết Linh
Bà Nguyễn Ái Đoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Bạch - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 15 và ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp chia thừa kế theo pháp luật, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 274/2023/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 102/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- Bà Nguyễn Thị Phượng Đ – sinh năm 1956;
- Bà Nguyễn Thị Kim L – sinh năm 1963;
- Bà Nguyễn Thị Kim N – sinh năm 1967;
Cùng địa chỉ: ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Bà Nguyễn Thị Kim X – sinh năm 1972
Địa chỉ: 2 M, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Phượng Đ, bà Nguyễn Thị Kim L, bà Nguyễn Thị Kim X là bà Nguyễn Thị Kim N - sinh năm 1967 ( Xin vắng mặt);
Địa chỉ: ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Theo văn bản ủy quyền ngày 16/4/2012 số công chứng 48, quyền số 01/TP/CC-SCC/HĐGD và văn bản ủy quyền ngày 18/4/2012 số công chứng 51, quyền số 01/TP/CC-SCC/HĐGD.
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thanh T – Văn phòng L3, Đoàn luật sư tỉnh T (Có mặt).
Bị đơn:
- Ông Nguyễn Lương P - sinh năm 1964 (Có mặt);
Địa chỉ: ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Ông Nguyễn Lương T1 – sinh năm 1969 (Có mặt);
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Lương T1 là bà Nguyễn Thị Kim S – sinh năm 1987 (Có mặt);
Địa chỉ: Lô A, KĐTMLB T, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Theo văn bản ủy quyền ngày 9/5/2023 số chứng thực 287 quyển số 1/2023/SCT/CK,ĐC ngày 9/5/2023.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Tấn T2 – sinh năm 1962 (Có mặt);
Địa chỉ: số B, khu phố I, phường B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Tấn T2: Luật sư Trần Ngọc Q – Văn phòng luật sư Phạm Thị Kim T3, Đoàn luật sư tỉnh T (Có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Minh H – sinh năm 1946 (Vắng mặt);
Địa chỉ: ấp G, xã L, Thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
- Ông Võ Vĩnh V – sinh năm 1963 (Vắng mặt);
Địa chỉ: ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Bà Hồ Thu S1 - sinh năm 1980 (Có mặt);
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Nguyễn Thị S2 – sinh năm 1940 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Số H, khu phố D, phường D, Thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
- Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: khu phố Đ, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang
Người đại diện theo pháp luật là ông Huỳnh Thanh B – Chủ tịch
- Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: khu phố Đ, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang
Người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Lâm S3 – Chi cục trưởng.
- Ngân hàng N5
Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo ủy quyền là ông: Lê Văn Q1 – Giám đốc chi nhánh P3 (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: số D N, khu phố A, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Trần Văn D – sinh năm 1972 (Vắng mặt);
Địa chỉ: ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang
Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N, đồng thời bà N cũng đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn viết đơn kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phượng Đ, bà Nguyễn Thị Kim L, bà Nguyễn Thị Kim X, bà Nguyễn Thị Kim N trình bày: cha mẹ các bà là cụ Nguyễn Văn T4, chết ngày 26/6/2002 và cụ Dương Thị N1, chết ngày 10/6/2009, có tất cả 6 con chung là 04 nguyên đơn và ông Nguyễn Lương P, Nguyễn Lương T1. Trước khi chết, cha mẹ không có làm di chúc nhưng có để lại 01 căn nhà thờ và 24.900m² đất thổ, vườn, lúa, ao (hồ) thửa 790, 791, 824, 1142, 1143, 1144, 1145, 1146, 1240, 1456 do cụ Nguyễn Văn T4 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S371836 ngày 13/3/2001. Gần đây các bà phát hiện “Biên bản v/v phân chia ruộng đất của gia đình ngày 26/01/2003” do Nguyễn Lương P và Nguyễn Lương T1 tự xác lập, trong đó chỉ có chữ ký của Nguyễn Thị Kim N là có thật, còn chữ ký của mẹ các bà và 03 chữ ký của Đ, L, X là giả mạo. Nội dung của biên bản thể hiện ý chí của hai bị đơn chia toàn bộ diện tích đất của cha để lại cho hai bị đơn gạt tất cả nguyên đơn ra ngoài với điều kiện 02 bị đơn không được sang nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất này.
Tuy nhiên sau khi được đứng tên 24.900m² đất này vào năm 2003, 02 bị đơn không hề cư trú tại nhà thờ, cũng không trực tiếp canh tác sử dụng các phần đất này, mà sinh sống tại Rạch G, Kiên Giang từ năm 1984 đến nay, năm 2003 về nhà xin cấp quyền sử dụng đất rồi đem cầm cố thế chấp. Nay các bà yêu cầu xác định căn nhà thờ và 24.900m² đất vườn thổ, lúa, vườn, ao tọa lạc tại ấp L, xã Y, huyện G do ông Nguyễn Văn T4 đứng tên quyền sử dụng đất là di sản của cha mẹ để lại cho tất cả 06 con chung. Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện G thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Nguyễn Lương P 19.220m² và Nguyễn Lương T1 5.680m² để chia lại cho 06 đồng thừa kế theo pháp luật là 4 nguyên đơn, 02 bị đơn mỗi người 01 phần bằng nhau. Riêng đối với căn nhà thờ nằm trên phần đất thổ hiện do Nguyễn Thị Phượng Đ quản lý thì tiếp tục giao cho bà Đ1 lý làm nhà thờ gia tộc, không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp dưới mọi hình thức.
Ngày 17/4/2021 bà Nguyễn Thị Kim N đại diện cho các đồng nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là đối với yêu cầu Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện G thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Nguyễn Lương P 19.220m² và Nguyễn Lương T1 5.680m². Nay thay đổi thành tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Lương P số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ CH00241 đến số CH00248 ngày 08/12/2010 và ông Nguyễn Lương T1 số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00950 ngày 19/11/2012 do ông Nguyễn Lương T1 và bà Hồ Thu S1 đứng tên.
Bị đơn ông Nguyễn Lương T1 trình bày: Cha ông là cụ Nguyễn Văn T4, sinh năm 1922 mất ngày 26/6/2002 và mẹ là cụ Dương Thị N1, sinh năm 1928, mất ngày 10/6/2009. Lúc sinh thời cha mẹ ông có 6 người con gồm Nguyễn Thị Phượng Đ, Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Lương P, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Lương T1 và Nguyễn Thị Kim X. Sau khi cha ông chết vào ngày cúng giỗ đầu tiên năm 2003 anh chị em ruột đã công bố tờ di chúc do cha ông viết vào ngày 12/8/1997 và đồng ý cùng phân chia di sản theo tờ di chúc của cha, vì mẹ đã xuất gia đi tu, nên không có yêu cầu chia di sản và cũng đồng ý cho anh chị em thỏa thuận chia toàn bộ di sản theo di chúc của cha. Ngay hôm cúng giỗ đó anh chị em đã lập biên bản phân chia ruộng đất của gia đình đã được cán bộ hộ tịch xã là Nguyễn Thùy M xác nhận và chứng thật của Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Y, Trần Văn Tiến M1 ký tên đóng dấu. Cụ thể như sau: “Căn cứ di chúc của cha già đã qua đời. Căn cứ buổi họp mặt thống nhất của gia đình trong không khí vui tươi và đoàn kết. Tôi Dương Thị Ngọc mẹ ruột của các con đã thống nhất chia ruộng và đất cho các con như sau: 1/ Chia phần đất từ hương lộ G đến hết bờ ruộng đến bờ kênh trong cho con Nguyễn Lương P gồm các thửa (căn cứ theo
giấy chứng nhận số S: 371836-127QSDĐ ký ngày 13/3/2001) 824, 1142, 1143, 1144, 1145, 1146, 1240, 1456 có tổng diện tích là 19.220m². 2/ Chia phần đất từ hương lộ G đến mé sông V cũ gồm các thửa 790, 791 có tổng diện tích 5.680m²". Sau khi lập biên bản phân chia mọi người đều vui vẻ đồng ý ký tên vào biên bản thỏa thuận này trong đó có sự đồng ý và ký tên của mẹ Dương Thị N1. Lúc cha ông còn sống có làm giấy tay cho ông phần đất 5.680m² này và trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 127/QSDĐ ngày 13/3/2001 cũng đúng hai lô đất 790 là 580m² và 791 là 5.100m². Căn cứ vào di chúc của cha và biên bản thỏa thuận nêu trên ông P và ông đều làm thủ tục hồ sơ hợp thức hóa quyền sử dụng đất. Ông hợp thức hóa hai thửa đất 790 và 791 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00188/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 04/12/2003 có diện tích 5.680m². Ngày 14/8/2007 ông Nguyễn Lương P đi thế chấp vay Ngân hàng P4 khu vực G thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất ruộng khoảng 12 công để vay 340.000.000 đồng. Sau đó ông P không khả năng trả lãi và vốn đúng hạn Ngân hàng định phát mãi, tất cả anh chị em đã yêu cầu ông trả nợ giúp cho khỏi bị ngân hàng phát mãi, ông đã trả được 170.000.000 đồng, ông P hứa sang tên phần đất ruộng này cho ông. Sau đó ông P đổi ý nên ông không tiếp tục trả nợ ngân hàng. Ông có hỏi ông P vay 340.000.000 đồng để làm gì, ông P nói cho chị Kim L mượn 120.000.000 đồng cất nhà và cho em Út. Sau đó vào năm 2009 xã Y thu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ đổi giấy mới, ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/7/2009 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp số H03916, thửa số 207, tờ bản đồ số 8, diện tích 6.118,40m². Ông P cũng được các anh chị em đồng ý để đứng tên quyền sử dụng đất diện tích 19.220m² trong đó có khoảng 11.000m² đất ruộng và 8.220m² đất vườn và thổ cư (400m²). Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2009, ông P bán 11.000m² đất ruộng do chị Kim L kêu bà con bên chồng mua, phần đất vườn và thổ cư trên có nhà hương hỏa, ông P đem thế chấp ngân hàng T6 nay là ngân hàng P5 số tiền 3.000.000.000 đồng, các chị em đều biết nhưng không ai ngăn cản. Việc bán đất ruộng và thế chấp đất vườn thổ cư này có chia cho các chị em bao nhiêu ông không biết. Hiện nay ông P không còn khả năng thanh toán nợ vay và Ngân hàng định kê biên phần đất 8.220m² đã thế chấp để thu hồi nợ và lãi vay. Vì sợ ngân hàng kê biên phát mãi nhà hương hỏa và phần mộ cha mẹ nên các chị khởi kiện chia tài sản, chẳng qua là nhằm ngăn cản việc kê biên thu hồi nợ vay của ngân hàng với lý do cho là ông P tự ý bán đất và thế chấp ngân hàng là không đúng. Nay ông không đồng ý việc chia di sản và yêu cầu Tòa bác đơn khởi kiện chia thừa kế vì cha ông có di chúc phân chia tài sản và được toàn bộ anh chị em và mẹ đã lập biên bản thỏa thuận phân chia từ năm 2003 đến nay, ông đã hợp thức hóa chủ quyền và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 6.118,40m². Hơn nữa ông đã
canh tác ổn định từ năm 2003 đến nay, từ đất ao hồ và làm ruộng, ông đã cải tạo, san lấp thành đất vườn, đã thu hoạch nhiều năm. Toàn bộ phần đất 19.220m² do vợ chồng ông P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã bán và thế chấp ngân hàng, không còn đất di sản để chia lại thừa kế theo pháp luật. Hơn nữa phần di sản gồm 24.900m² gồm đất ruộng, đất thổ cư, và nhà hương hỏa nếu có chia lại cho 6 anh chị em phần được hưởng của ông cũng tương đương diện tích 5.680m².
Bị đơn ông Nguyễn Lương P trình bày: Vào ngày 01/3/2003 ông và ông Nguyễn Lương T1 có bàn bạc với nhau chia khoản đất và ruộng của cha mẹ để lại mà không thông qua các chị và em của ông (chị em ông tổng cộng có 6 anh chị em ruột) bằng cách ông dựng lên một biên bản giả không thông qua 04 người còn lại và giả mạo chữ ký của những người còn lại. Trong đó có chữ ký của N là chữ ký thật vì trong lúc N đang bị bận ông ép ký nhưng không xem rõ nội dung biên bản gì. Sau đó T1 lợi dụng chổ quen biết với chính quyền địa phương và cơ quan chức năng nên đã đem đi ký xác nhận. Sau khoảng 3, 4 ngày gì đó T1 đã đem biên bản về khoe với ông là đã xác nhận được rồi. Trong lúc đó ông mới tính lại là biên bản giả chữ ký mà sao xác nhận được, nên ông mới lấy biên bản gốc đó đem giấu đi và sau đó T1 lấy biên bản photo đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông và ông T1. Để kiểm chứng lại, xem tôi tường trình đúng sự thật hay không xin Tòa xem đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà mấy cơ quan lưu giữ trong hồ sơ không phải của ông và ông chưa từng viết đơn đó. Khi giấy chứng nhận quý cơ quan làm xong ông chưa từng lên ký nhận bao giờ. Ông là bị đơn nhưng sẵn sàng hợp tác với quý cơ quan chức năng có thẩm quyền để trả lại sự công bằng cho nguyên đơn bị oan ức bấy lâu nay.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Nguyễn Tấn T2 trình bày: Nguyên vào thời điểm ngày 20/11/2010 anh Võ Vĩnh V chồng chị Nguyễn Thị Kim L và chị Võ Thị P1 đến nhà ông có nói ông Nguyễn Lương P kêu bán 01 thửa đất ruộng tọa lạc tại ấp L, xã Y, huyện G với diện tích 11.620m² (theo sổ cũ) khi chuyển đổi số mới đo đạc thực tế có diện tích 11.866,7m² gồm 6 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: số 87 thửa đất số 94, tờ bản đồ số 12; số 90 thửa đất số 70, tờ bản đồ số 12; số 91, thửa đất số 118, tờ bản đồ số 12; số 92, thửa đất số 147, tờ bản đồ số 12; số 93, thửa đất số 158, tờ bản đồ số 12; số 94, thửa đất số 198, tờ bản đồ số 12 đều do ông Nguyễn Lương P đứng tên cấp ngày 08/12/2010. Do ông Nguyễn Lương P thiếu tiền Ngân hàng P4 – chi nhánh G nên Ngân hàng khởi kiện ông P tại Tòa án Gò Công Tây, bản án có hiệu lực pháp luật, Thi hành án thông báo kê biên phát mãi phần đất ruộng. Nên ông P kêu ông bán đất lấy tiền trả cho ngân hàng. Ông và ông P thỏa
thuận mua bán 1.000m² là 40.000.000 đồng với diện tích là 11.620m², tổng số tiền là 465.000.000 đồng. Sau đó đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đo lại thực tế nên đất tăng lên diện tích 11.866,7m² nên ông phải trả số tiền thêm cho ông P là 11.668.000 đồng. Cụ thể ngày 25/8/2010 giao tiền cho ông P 350.000.000 đồng để ông P trả cho ngân hàng, ngày 17/9/2010 trả 100.000.000 đồng, còn lại 24.668.000 đồng trả vào ngày 10/12/2010 là dứt điểm và chị L giao cho ông 06 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông P đứng tên. Từ đó cho đến nay ông P không về làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho ông. Nay ông yêu cầu ông P tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua cho ông đứng tên vì ông đã giao đủ tiền cho ông P và đất ông cũng đang quản lý, sử dụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Nguyễn Thị S2 trình bày: ông Nguyễn Lương T1 và bà Hồ Thị S4 đã đồng ý chuyển nhượng cho bà toàn bộ diện tích đất tọa lạc tại ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang thửa đất số 207, tờ bản đồ số 08, diện tích 6.118,8m² đất trồng cây lâu năm, hình thức sử dụng riêng, thời hạn sử dụng 15/10/2013 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL492168, số vào sổ cấp GCN: CH00950 ngày 19/11/2012 với giá trị chuyển nhượng là 5.800.000.000 đồng, nhưng đến nay bà vẫn chưa nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bà yêu cầu ông Nguyễn Lương P và bà Hồ Thị S4 chuyển nhượng sang tên toàn bộ diện tích đất, thửa đất số 207, tờ bản đồ số 08, diện tích 6.118,8m² cho bà đứng tên vì thời gian khá lâu ảnh hưởng đến vật chất lẫn tinh thần.
Ngày 21/6/2023 bà Nguyễn Thị S2 có đơn xin rút yêu cầu độc lập.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Minh H trình bày: cha của bà tên Nguyễn Văn T4 và mẹ là Giáp Thị T5, năm 1949 cụ T5 chết hai người có 01 người con là bà. Thời gian sau cụ T4 có vợ kế tên Dương Thị N1, hai người sinh ra 06 người con là Nguyễn Thị Phượng Đ, Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Lương P, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Lương T1 và Nguyễn Thị Kim X. Khi cụ T4 còn sống có lập di chúc và thực hiện chia cho bà khoảng 02 công đất và là chị cả trong gia đình, bà biết rõ trước khi chết cụ T4 có ý định phân chia cho Nguyễn Lương P phần đất vườn có nhà ở 9.200m² và 12.500m² đất ruộng, Nguyễn Lương T1 khoảng 6.000m² đất rẩy. Ý định này được cụ T4 thông qua tất cả các con đồng thời cụ có lập di chúc, đối với 03 người con gái đã có chồng nên không chia, riêng người thứ 5 tên Phượng Đ không có chồng con nên được ở lại ngôi nhà thờ đến cuối đời. Năm 2002 cụ T4 qua đời (đám giỗ đầu tiên) cụ T4 vào tháng 01/2003 có tất cả anh chị em về dự kể cả mẹ là bà N1, khi đó anh em cùng thực hiện lời di huấn của cụ T4 thực hiện phân chia tài sản
ruộng đất như ý nguyện của cụ. Sự việc này có lập biên bản và tất cả anh chị em vui vẻ đồng ý. Sau khi thỏa thuận xong thì giao cho chị Kim L liên hệ anh O địa chính xã lập thủ tục sang tên đăng ký. Kể từ đó P và T1 được cấp giấy đỏ đất của ai nấy quản lý, không ai tranh chấp gì cả. Hiện tại Phùng thế chấp vay ngân hàng làm ăn thua lỗ, tài sản có nguy cơ bị phát mãi, từ đó ngoài Triều các chị em gái định chia thừa kế nhằm tránh bị lấy đất trừ nợ. Theo bà H bà có phần rồi nên bà không tranh chấp gì về tài sản của cụ T4, cụ N1 để lại. Triều và P được phân chia thì giữ lấy để sinh sống và cúng giỗ ông bà, nếu ai bị nợ thì tùy pháp luật định liệu bà không có ý kiến gì. Việc tranh chấp như hiện nay là sai không phù hợp với tâm nguyện, ý chí của cụ T4 và cụ N1. Bà H không có ý kiến gì thêm, không tranh chấp và xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Vĩnh V trình bày: Ông có nhận số tiền của ông T2 là 474.668.000 đồng để đưa cho Nguyễn Lương P vì lý do ông P đi làm ăn xa không về được, chữ ký trong biên nhận là của ông, tiền này là tiền ông P bán ruộng cho ông T2.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thu S1 có đơn xin vắng mặt tại Tòa án và không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của các nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện G trình bày: ông Nguyễn Văn T4 sinh năm 1922 là cha ruột của Nguyễn Thị Phượng Đ, Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Lương P, Nguyễn Lương T1, Nguyễn Thị Kim X, Nguyễn Thị Kim N. Ông Nguyễn Văn T4 có quản lý sử dụng 24.900m² đất tọa lạc tại ấp L, xã Y bao gồm: thửa 790 diện tích 580m² loại đất ao, thửa 791 diện tích 5.100m² loại đất lúa; thửa 824 diện tích 5.300m² loại đất Q+T; thửa 1142 diện tích 1.950m² loại đất lúa; thửa 1143 diện tích 1.700m² loại đất lúa; thửa 1144 diện tích 1.440m² loại đất lúa; thửa 1145 diện tích 1470m² loại đất lúa; thửa 1146 diện tích 2.300m² loại đất màu; thửa 1240 diện tích 2.500m² loại đất lúa; thửa 1456 diện tích 2.560m² loại đất lúa. Đã được Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00127 cấp ngày 13/3/2001. Sau khi ông Nguyễn Văn T4 chết vợ ông T4 là bà Dương Thị N1, sinh năm 1928 cùng các con trong gia đình họp thống nhất chia toàn bộ diện tích 24.900m² cho ông Nguyễn Lương P và Nguyễn Lương T1. Theo biên bản phân chia ruộng đất của gia đình ngày 26/01/2003 được xác nhận của cán bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân xã Y. Ông P nhận 19.220m² gồm các thửa 824, 1142, 1143, 1144, 1145, 1146, 1456, 1240, ông T1 được nhận 5.680m² gồm các thửa 790, 791. Ông P và ông T1 đã lập thủ tục nhận quyền sử dụng đất đúng theo quy định và đã được Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00127 ngày 04/12/2003 cho ông Nguyễn Lương P diện tích 19.220m² gồm các
thửa 1142, 1143, 1144, 1145, 1146, 1240, 1456 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00188 ngày 04/12/2003 cho ông Nguyễn Lương T1 diện tích 5.680m² gồm các thửa 790 và 791. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Lương P và ông Nguyễn Lương T1 là đúng theo trình tự thủ tục và quy định của pháp luật do đó các nguyên đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện G thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông P và ông T1 là không có cơ sở.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây trình bày: ngày 04/6/2015 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây đã tiến hành kê biên tài sản thế chấp của ông Nguyễn Lương P gồm quyền sử dụng đất (thửa 270, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.302,9m² đất trồng cây lâu năm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00246 ngày 08/12/2010 và thửa 51, tờ bản đồ số 12 diện tích 5.341,1m² đất thổ lâu năm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00247 cấp ngày 08/12/2010 và công trình xây dựng trên đất (kể cả cây trồng trên đất) tọa lạc tại ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Hiện tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây hoãn thi hành án để chờ kết quả xét xử của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây về việc tranh chấp chia di sản thừa kế.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N5 – Chi nhánh P3 trình bày: Ông Nguyễn Lương P đại diện cho D2 ký kết hợp đồng tín dụng số 6240LAV201100020 ngày 24/01/2011 với A cụ thể như sau: số tiền vay 5.700.000.000 đồng, mục đích vay vốn mua salan, 02 xe cần cẩu bánh xích, dư nợ gốc hiện tại còn 5.572.666.667 đồng, dư nợ lãi tạm tính đến ngày 24/12/2012 1.515.916.944 đồng. Tổng dư nợ gốc và lãi vay còn phải thanh toán là 7.088.583.611 đồng. Đã quá hạn thanh toán 521 ngày. Tài sản bảo đảm tiền vay thế chấp bằng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00246 ngày 08/12/2010 thửa đất số 270, tờ bản đồ số 12 diện tích 2.302,9m² và số CH00247 ngày 08/12/2010 thửa số 51, tờ bản đồ số 12, diện tích 5.341,1m² theo hợp đồng thế chấp số 6240LCL201100021 ngày 24/01/2011. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện G ngày 25/01/2011 đã đăng ký giao dịch đảm bảo vào lúc 16 giờ 45 phút ngày 25/01/2011 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện G. A không có ý kiến về việc tranh chấp chia di sản thừa kế của các bên có liên quan. Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng, tài sản của Nhà nước, kính đề nghị Tòa án xem xét giải quyết các nghĩa vụ về tài sản (trả nợ gốc và lãi phát sinh tại A) trước khi giải quyết phân chia di sản thừa kế của các bên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn D trình bày: Anh là người thuê đất ông Nguyễn Tấn T2, anh thuê từ năm 2017 cho đến nay, anh thuê
đất là 2.000.000 đồng một công trong một năm. Nay anh không có yêu cầu trong vụ án này tùy Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án xử như thế nào thì anh chấp hành theo bản án như vậy.
Tại Bản án dân sơ thẩm số 274/2023/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang áp dụng các Điều 34, 175, 177, 228, 235, 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 457, 459, 611, 612, 620, 623, 649, 650, 651, 500 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 7 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phượng Đ, bà Nguyễn Thị Kim L, bà Nguyễn Thị Kim N, bà Nguyễn Thị Kim X.
Công nhận một phần các thửa đất số 51, tờ bản đồ số 12, diện tích 5.341,10m² (đất trồng cây lâu năm 5.041,1m², đất ở nông thôn 300m²), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00247; thửa đất số 270, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.302,9m² đất trồng cây lâu năm, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00246; thửa đất số 94, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.494,8m² đất lúa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00248; thửa đất số 70, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.441,9m² đất lúa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00245; thửa đất số 118, tờ bản đồ số 12, diện tích 3.627,7m² đất lúa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00244; thửa đất số 147, tờ bản đồ số 12, diện tích 199,00m² đất trồng cây hàng năm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00243; thửa đất số 158, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.460,40m² đất lúa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00242; thửa đất số 198, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.642,9m² đất lúa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00241 cùng ngày 08/12/2010 do ông Nguyễn Lương P đứng tên và thửa đất số 207, tờ bản đồ số 8, diện tích 6.118,40m² giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00950 ngày 19/11/2012 do ông Nguyễn Lương T1 đứng tên, tọa lạc tại ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn T4.
Giao cho ông Nguyễn Lương P được tiếp tục quản lý sử dụng thửa đất số 51, tờ bản đồ số 12, diện tích 5.341,10m² (đất trồng cây lâu năm 5.041,1m², đất ở nông thôn 300m²), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00247; thửa đất số 270, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.302,9m² đất trồng cây lâu năm, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00246; thửa đất số 94, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.494,8m² đất lúa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00248; thửa đất số 70, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.441,9m² đất lúa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00245; thửa đất số 118, tờ bản đồ số 12, diện tích 3.627,7m² đất lúa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00244; thửa đất số 147, tờ bản đồ số 12, diện tích 199,00m² đất trồng cây hàng năm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00243; thửa đất số 158, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.460,40m² đất lúa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00242; thửa đất số 198, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.642,9m² đất lúa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00241 cùng ngày 08/12/2010 do ông Nguyễn Lương P đứng tên.
Giao cho ông Nguyễn Lương P được tiếp tục sở hữu ngôi nhà thờ trên thửa 51 gồm nhà trước kết cấu nhà trệt, móng cột bằng bê tông cốt thép kèo bằng gỗ quy cách, vách xây gạch, ốp gạch ceramic 250 x 400, mái lợp ngói + bê tông cốt thép, nền xi măng lát gạch ceramic 400 x 400mm, tường cột dầm bả matic và sơn nước, trần bằng ván gỗ, không khu phụ diện tích 132,825m²; nhà sau kết cấu nhà trệt móng cột bằng bê tông cốt thép, kèo bằng thép hộp vách xây gạch ốp gạch ceramic 250 x 400mm có 1 vách nhờ có cột, mái lợp tôn xi măng, nền xi măng, lạt gạch ceramic 400 x 400mm tường cột dầm bả matic và sơn nước nhà có khu phụ diện tích 74,175m²; nhà bếp kết cấu nhà trệt móng cột bằng bê tông cốt thép kèo bằng gỗ quy cách, vách xây gạch, mái lợp tôn xi măng, nền xi măng, lát gạch ceramic 200 x 200mm, tường cột dầm ba3matic và sơn nước nhà không khu phụ diện tích 58,65m²; mái che kết cấu cột thép tròn kèo thép hộp mái tôn tráng kẽm, nền xi măng, không vách diện tích 41,48m².
Ông Nguyễn Lương P có trách nhiệm giao lại cho bà Nguyễn Thị Phượng Đ số tiền 2.611.865.574 đồng (hai tỷ sáu trăm mười một triệu tám trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm bảy mươi bốn đồng) khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Nguyễn Lương P có trách nhiệm giao lại cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền 2.611.865.574 đồng (hai tỷ sáu trăm mười một triệu tám trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm bảy mươi bốn đồng) khi bản án có hiệu lực pháp luật
Ông Nguyễn Lương P có trách nhiệm giao lại cho bà Nguyễn Thị Kim X số tiền 2.611.865.574 đồng (hai tỷ sáu trăm mười một triệu tám trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm bảy mươi bốn đồng) khi bản án có hiệu lực pháp luật
Ông Nguyễn Lương P có trách nhiệm giao lại cho bà Nguyễn Thị Kim N số tiền 77.855.574 đồng (bảy mươi bảy triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm bảy mươi bốn đồng) khi bản án có hiệu lực pháp luật
Giao cho ông Nguyễn Lương T1 được tiếp tục quản lý sử dụng thửa đất số 207, tờ bản đồ số 8, diện tích 6.118,40m² giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00950 ngày 19/11/2012 do ông Nguyễn Lương T1 đứng tên, tọa lạc tại ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phượng Đ, bà Nguyễn Thị Kim L, bà Nguyễn Thị Kim N, bà Nguyễn Thị Kim X về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật các thửa đất số 51, 270, 94, 70, 118, 147, 158, 198, 207 cho 6 phần bằng nhau.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phượng Đ, bà Nguyễn Thị Kim L, bà Nguyễn Thị Kim N, bà Nguyễn Thị Kim X về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00241, CH00242, CH00243, CH00244, CH00245, CH00246, CH00247, CH00248 cùng ngày 8/12/2010 do ông Nguyễn Lương P đứng tên và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00950 ngày 19/11/2012 do ông Nguyễn Lương T1 đứng tên.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Nguyễn Tấn T2.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Lương P có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Tấn T2 số tiền 4.746.680.000 đồng (bốn tỷ bảy trăm bốn mươi sáu triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng), khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Tấn T2 có trách nhiệm trả lại ông Nguyễn Lương P các thửa đất số 94, 70, 118, 147, 158, 198 và các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00241, CH00242, CH00243, CH00244, CH00245, CH00248 cùng ngày 8/12/2010 do ông Nguyễn Lương P đứng tên, khi bản án có hiệu lực pháp luật. Cụ thể như sau:
- Thửa đất số 94, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.494,8m² giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00248 ngày 08/12/2010 do ông Nguyễn Lương P đứng tên, tọa lạc tại ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang, có vị trí:
- + Đông giáp đất ông Phạm Tấn P2
- + Tây giáp đất bà Nguyễn Thị Tuyết N2, Phạm Thị N3
- + Nam giáp đất bà Nguyễn Thị Kim X
- + Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị Phượng Đ
(có sơ đồ kèm theo)
- Thửa đất số 70, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.441,9m² giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00245 ngày 08/12/2010 do ông Nguyễn Lương P đứng tên, tọa lạc tại ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang, có vị trí:
- + Đông giáp đất ông Phạm Tấn P2
- + Tây giáp đất bà Nguyễn Thị Tuyết N2
- + Nam giáp đất bà Nguyễn Thị Kim N
- + Bắc giáp đất ông Nguyễn Lương T1
(có sơ đồ kèm theo)
- Thửa đất số 118, tờ bản đồ số 12, diện tích 3.627,7m² giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00244 ngày 08/12/2010 do ông Nguyễn Lương P đứng tên, tọa lạc tại ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang, có vị trí:
- + Đông giáp đất ông Phạm Tấn P2
- + Tây giáp đất bà Nguyễn Thị Tuyết N2, Võ Vĩnh L1
- + Nam giáp Kênh
- + Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị Kim N
(có sơ đồ kèm theo)
- Thửa đất số 147, tờ bản đồ số 12, diện tích 199,0m² giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00243 ngày 08/12/2010 do ông Nguyễn Lương P đứng tên, tọa lạc tại ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang, có vị trí:
- + Đông giáp đất bà Nguyễn Thị L2
- + Tây giáp đất ông Võ Vĩnh L1
- + Nam giáp đất ông Nguyễn Lương T1
- + Bắc giáp Kênh
(có sơ đồ kèm theo)
- Thửa đất số 158, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.460,4m² giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00242 ngày 08/12/2010 do ông Nguyễn Lương P đứng tên, tọa lạc tại ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang, có vị trí:
- + Đông giáp đất bà Nguyễn Thị L2
- + Tây giáp đất ông Võ Vĩnh L1, ông Võ Vĩnh Đ2
- + Nam giáp đất bà Phạm Thị N3
- + Bắc giáp đất ông Nguyễn Lương T1
(có sơ đồ kèm theo)
- Thửa đất số 198, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.642,9m² giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00241 ngày 08/12/2010 do ông Nguyễn Lương P đứng tên, tọa lạc tại ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang, có vị trí:
- + Đông giáp đất ông Phạm Văn D1
- + Tây giáp đất ông V1 Vĩnh Viễn
- + Nam giáp Bờ kênh, kênh
- + Bắc giáp đất bà Phạm Thị N3
(có sơ đồ kèm theo)
Tất cả các thửa đất này ông T2 đang quản lý sử dụng .
- Hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 08/2019/QĐ-BPKCTT ngày 17/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây về việc cấm chuyển dịch về quyền tài sản đối với tài sản đang tranh chấp đối với phần đất thửa số 207, tờ bản đồ số 8, diện tích 6.118,4m² theo giấy
chứng nhận đất số CH00950 ngày 19/11/2012 do ông Nguyễn Lương T1 đứng tên, tọa lạc tại ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
7.1 Bà Nguyễn Thị Kim N được quyền liên hệ với Ngân hàng N5 – Chi nhánh huyện G để nhận lại số tiền 100.000.000đồng và lãi phát sinh (nếu có) theo quyết định buộc thực hiện biên pháp bảo đảm số 06/2019/QĐ.BPBĐ ngày 17/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây.
- Về án phí :
8.1. Án phí phúc thẩm: H2 lại bà nguyễn Thị Kim N4 số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền số 0011609 ngày 21/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
8.2.Án phí sơ thẩm :
- - Bà Nguyễn Thị Phượng Đ4 được miễn án phí dân sự sơ thẩm, nên hoàn lại số tiền 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà Đ4 đã nộp theo biên lai thu số 020965 ngày 27/6/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
- - Bà Nguyễn Thị Kim L được miễn án phí dân sự sơ thẩm, nên hoàn lại số tiền 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo biên lai thu số 020966 ngày 27/6/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, Tỉnh Tiền Giang.
- - Bà Nguyễn Thị Kim X phải chịu 30.471.700đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà X đã nộp theo biên lai thu số 020968 ngày 27/6/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, nên bà X còn phải nộp tiếp 30.271.000 đồng.
- - Bà Nguyễn Thị Kim N phải chịu 30.471.700đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà N đã nộp theo biên lai thu số 020967 ngày 27/6/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, nên bà N còn phải nộp tiếp 30.271.000 đồng.
- - Ông Nguyễn Lương P được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
- - Ông Nguyễn Lương T1 phải chịu 117.544.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - H2 lại cho ông Nguyễn Tấn T2 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông T2 đã nộp theo biên lai thu số 021511 ngày 15/5/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
- - Bà Nguyễn Thị S2 được miễn nộp tiền tạm ứng án phí.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Tuyên án công khai lúc 14 giờ 00 ngày 22/8/2024.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Đạt |
Bản án số 441/2024/DS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp chia thừa kế theo pháp luật, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 441/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế theo pháp luật, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 21 tháng 8 năm 2023, nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N có đơn kháng cáo với nội dung: Sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
