Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 441/2024/DS-PT

Ngày: 22 - 8 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng góp

hụi, tranh chấp hợp đồng vay tài

sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Văn Ngọt
Các Thẩm phán:Ông Phạm Văn Tỉnh
Bà Phạm Thị Thu Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Phương Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ngân – Kiểm sát viên.

1

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 194/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi, tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 09, 13 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2502/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa xét xử phúc thẩm số 2798/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Tạ Thị P, sinh năm 1969; (Có mặt)
  • Địa chỉ: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
  • - Bị đơn:
    1. Bà Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1972;
    2. Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1966;
  • Cùng địa chỉ: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
  • Ông Đ ủy quyền cho bà T (Theo văn bản ủy quyền ngày 04 tháng 5 năm 2024) (Bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
  • Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm

Tại đơn khởi kiện, biên bản hòa giải và phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Tạ Thị P trình bày:

Bà Tạ Thị P có tham gia hụi do bà Nguyễn Thị Huyền T tổ chức như sau:

Dây hụi thứ nhất, hụi 5.000.000 đồng/tháng, mở ngày 05/01/2022 âm lịch, gồm 26 phần, bà P tham gia 01 phần, đóng được 24 lần x 5.000.000 đồng = 120.000.000 đồng. Bà P kêu hốt vào ngày 05/12/2023, chốt được số tiền là 118.900.000đồng, bà T chưa giao hụi nên bà P yêu cầu bà T giao số tiền được làm tròn là 118.000.000đồng.

Dây hụi thứ hai, hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở ngày 15/08/2022 âm lịch, gồm 25 phần, bà P tham gia 01 phần, đóng được 18 lần x 1.000.000 đồng = 18.000.000 đồng.

Dây hụi thứ ba, hụi 5.000.000 đồng/tháng, mở ngày 15/04/2023 âm lịch, gồm 30 phần, bà P tham gia 01 phần, đóng được 09 lần x 5.000.000 đồng = 45.000.000 đồng.

Ngoài ra, vào ngày 03/11/2023 âm lịch, nhằm ngày 15/12/2023 dương lịch, bà Nguyễn Thị Huyền T có hỏi mượn của bà P số tiền là 200.000.000 đồng, lãi suất 1,5%/tháng, đến nay chưa trả.

Vì vậy, bà P yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ phải liên đới trả cho bà số tiền hụi và vay là 381.000.000 đồng (gồm 181.000.000đồng tiền hụi và 200.000.000đồng tiền vay). Bà P không yêu cầu tính lãi.

2

Tại văn bản trình bày ý kiến và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T trình bày:

Bà P có tham gia chơi hụi do bà T làm chủ hụi, các dây hụi như sau:

Dây hụi thứ nhất, hụi 5.000.000 đồng/tháng, mở ngày 05/01/2022 âm lịch, gồm 26 phần, bà P tham gia 01 phần, đóng được 24 lần. Bà P kêu hốt vào ngày 05/12/2023, chốt được số tiền là 118.900.000đồng, theo lịch giao hụi là vào ngày 15/12/2023, nhưng bà T chưa giao hụi. Tuy nhiên, nay bà T bể hụi nên xin trả lại tiền bà P đã đóng là 71.270.000đồng.

Dây hụi thứ hai, hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở ngày 15/08/2022 âm lịch, gồm 25 phần, bà P tham gia 01 phần, đóng được 18 lần, bà T xin trả cho bà P số tiền đã đóng là 12.320.000 đồng.

Dây hụi thứ ba, hụi 5.000.000 đồng/tháng, mở ngày 15/04/2023 âm lịch, gồm 30 phần, bà P tham gia 01 phần, đóng được 09 lần, bà T xin trả cho bà P số tiền đã đóng là 26.560.000đồng.

Ngoài ra, bà T còn thừa nhận có vay của bà P số tiền 200.000.000đồng đến nay chưa trả.

Vì vậy, bà T đồng ý trả cho bà P tổng số tiền hụi đã đóng là 110.150.000đồng và 200.000.000đồng tiền vay, tổng cộng là 310.150.000đồng.

Theo biên bản hòa giải ngày 26/3/2024, ông Đ thống nhất với lời trình bày của vợ ông và đồng ý cùng liên đới với bà T trả nợ.

Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 09, 13 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách quyết định:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 111, 112, 126, 138, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tạ Thị P đối với bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Tạ Thị P số tiền tổng cộng là 351.880.000₫ (Ba trăm năm mươi mốt triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng), trong đó số tiền hụi là 151.880.000đ (Một trăm năm mươi mốt triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) và số tiền vay là 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng).

3

  1. Tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2024/QĐ- BPКСТТ ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 27/5/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 09, 13/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Thị P.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị Huyền T có yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nguyên đơn bà Tạ Thị P không đồng ý kháng cáo của bà T và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu:

Về tố tụng:

Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn kháng cáo và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ. Kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử theo hướng không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2024/DSST ngày 09, 13/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Huyền T, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T kháng cáo và gửi thủ tục kháng cáo hợp lệ trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm; bà Nguyễn Thị Huyền T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T.

Về nội dung:

[1] Bà P có tham gia chơi hụi do bà T làm chủ hụi, bà T cũng thừa nhận nên đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.

4

[1.1] Dây hụi thứ nhất, hụi 5.000.000 đồng/tháng, mở ngày 05/01/2022 âm lịch, gồm 26 phần, bà P tham gia 01 phần, đóng được 24 lần. Bà P kêu hốt vào ngày 05/12/2023, chốt được số tiền là 118.900.000 đồng nhưng bà T không giao tiền cho bà P và hỏi mượn lại số tiền này. Trong văn bản trình bày ý kiến bà T xin trả số tiền hụi gốc bà P đã đóng là 71.270.000 đồng nhưng bà P không đồng ý.

Xét thấy, bà P đã kêu hốt hụi được số tiền 118.900.000 đồng nhưng bà T chưa giao hụi cho bà P nên cần buộc bà T giao cho bà P số tiền hụi bà P yêu cầu của dây hụi ngày 05/11/2022 âm lịch 118.000.000 đồng là phù hợp, tuy nhiên bà P cần phải đóng lại cho bà T 1 tháng hụi nữa thì đến thời gian mãn hụi. Vì vậy, cần buộc bà T phải trả cho bà P số tiền hụi của dây hụi ngày 05/01/2022 âm lịch là 113.000.000 đồng (số tiền lĩnh hụi là 118.000.000 đồng - 1 tháng hụi chết là 5.000.000 đồng).

[1.2] Dây hụi thứ hai, bà P và bà T cùng thống nhất là hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở ngày 15/08/2022 âm lịch, gồm 25 phần, bà P tham gia 01 phần, đóng được 18 lần, số tiền là 18.000.000 đồng. Bà T thỏa thuận xin trả cho bà P số tiền mà bà P đã đóng là 12.320.000 đồng và bà P đồng ý tại phiên tòa sơ thẩm.

[1.3] Dây hụi thứ ba, bà P và bà T cùng thống nhất là hụi 5.000.000 đồng/tháng, mở ngày 15/04/2023 âm lịch, gồm 30 phần, bà P tham gia 01 phần, đóng được 09 lần, số tiền là 45.000.000 đồng. Bà T thỏa thuận xin trả cho bà P số tiền mà bà P đã đóng là 26.560.000 đồng và bà P cũng đồng ý tại phiên tòa sơ thẩm.

Như vậy, buộc bà T phải trả cho bà P tổng số tiền hụi là 151.880.000 đồng.

[1.4] Tại biên nhận ngày 03/11/2023 âm lịch (nhằm ngày 15/12/2023 dương lịch) cho thấy bà T đã vay bà P với số tiền 200.000.000 đồng, tại phiên tòa sơ thẩm biên nhận này được bà T thừa nhận và đồng ý trả cho bà P số tiền 200.000.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền hụi và tiền vay mà bà T phải trả cho bà P là 351.880.000 đồng (gồm 151.880.000 đồng tiền hụi và 200.000.000 đồng tiền vay). Bà P không yêu cầu tính lãi và bà T không có ý kiến hay yêu cầu gì về lãi.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T, nhận thấy:

[2.1] Bà T thừa nhận các dây hụi mà T1 tham gia, số phần hụi và thời gian đóng hụi phù hợp với lời trình bày của bà P. Các dây hụi trên là hụi có lãi. Do đó, thành viên tham gia hụi đã hốt hụi thì có nghĩa vụ trả lãi cho các thành viên chưa hốt hụi. Còn bà T là chủ hụi đứng ra tổ chức, quản lý dây hụi, có nghĩa vụ thu các phần hụi và giao các phần hụi đó cho thành viên được lĩnh hụi trong mỗi kỳ mở hụi cho tới khi kết thúc dây hụi. Mặc dù hiện nay bà T không còn tổ chức hụi tiếp tục nhưng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của chủ hụi như nhận định nêu trên. Bà P tham gia đóng hụi nhưng chưa hốt hụi nên bà T phải có nghĩa vụ gom hụi của các thành viên đã hốt hụi để giao hụi lại cho bà P với số tiền hụi mà bà P yêu cầu của mỗi dây hụi nêu trên và bà P đồng ý trả tiền đầu thảo cho bà T đối với mỗi phần

5

hụi là phù hợp. Việc bà T kháng cáo thỏa thuận trả lại số tiền hụi mà bà P đã đóng nhưng không được không được sự chấp nhận bà P. Quá trình giải quyết vụ án, chồng bà T là ông Phan Văn Đ đồng ý liên đới cùng bà T trả nợ cho bà P. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P, buộc bà T và ông Đ phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà P số tiền nợ hụi 151.880.000 đồng và 200.000.000 đồng tiền vay là có căn cứ. Tuy nhiên, theo đơn khởi kiện bà P yêu cầu bà T, ông Đ trả cho bà tổng số tiền nợ hụi là 181.000.000 đồng, tại phiên tòa cấp sơ thẩm bà P chỉ yêu cầu bà T trả số tiền hụi 151.880.000 đồng, bà P không yêu cầu số tiền lãi hụi chênh lệch là 29.120.000 đồng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đình chỉ giải quyết phần tiền này là không đúng nên Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bổ sung là phù hợp.

[2.2] Bà T kháng cáo nhưng không có chứng cứ mới chứng minh tại phiên tòa phúc thẩm nên kháng cáo của bà T là không có căn cứ để chấp nhận.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 09, 13/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 09, 13 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 111, 112, 126, 138, 147, 271, 273 và khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tạ Thị P.

Buộc bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Tạ Thị P số tiền tổng cộng là 351.880.000₫ (Ba trăm năm mươi mốt triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng), trong đó số tiền hụi là 151.880.000đ (Một trăm

6

năm mươi mốt triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) và số tiền vay là 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Tạ Thị P về phần lãi hụi số tiền là 29.120.000₫ (Hai mươi chín triệu một trăm hai mươi nghìn đồng).
  2. Tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2024/QĐ- BPКСТТ ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • 4.1. Bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Phan Văn Đ phải có trách nhiệm liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 17.594.000 (Mười bảy triệu năm trăm chín mươi bốn nghìn đồng).
    • 4.2. Hoàn trả lại cho bà Tạ Thị P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.700.000₫ (Chín triệu bảy trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001440 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
  4. Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Huyền T phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000906 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Bà Nguyễn Thị Huyền T đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Văn TỉnhPhạm Thị Thu TrangPhạm Văn Ngọt

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - TAND huyện Chợ Lách (1b);
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Lách (1b);
  • - Các đương sự (4b);
  • - Phòng KTNV&THAHS tỉnh Bến Tre (2b);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Ngọt

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 441/2024/DS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng góp hụi, tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 441/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi, tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng góp hụi, tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger