Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 4400/2024/ HNGĐ-ST

Ngày: 18/09/2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Lũy.
  • - Các hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Trần Đăng Vạn
    2. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng
  • - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Vũ Lê Quang Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 09 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1242/2024/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 05 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1242/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 07 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 887/2024/QĐST-TA ngày 19 tháng 08 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Dương Thị M, sinh năm 1999

Trú tại: Ấp I, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

Bị đơn: Ông Phan Xuân V, sinh năm 1992

Trú tại: Số I, Đường A, Tổ C, khu phố B, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà M xin vắng mặt, ông V vắng không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên Tòa ngày hôm nay bà Dương Thị M tuy vắng mặt nhưng theo nội dung đơn khởi kiện, tại bản tự khai, tại biên bản về việc không tiến hành hòa giải được thì nội dung và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:

Bà và ông Phan Xuân V tự nguyện kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn, ông bà kết hôn là tự nguyện không phải do mai mối. Thời gian ban đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian hạnh phúc không bao lâu thì mất dần nguyên nhân là do ông bà không hiểu nhau thường xuyên cãi nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và thiếu sự tôn trọng lẫn nhau, ông Phan Xuân V thường xuyên đánh đập bà. Sống với nhau không được nên bà đã về quê sống với cha mẹ tại Hậu Giang. Ông bà đã ly thân, không ai lo cho ai. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Phan Xuân V. Về con chung, bà và ông Phan Xuân V có 01 con chung tên Phan Tường V1 sinh ngày 19/12/2019. Khi đi về quê sống, bà không đem theo con, con hiện nay đang được ông Phan Xuân V nuôi giữ. Ly hôn, ông Phan Xuân V tiếp tục nuôi con, bà không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có.

Bị đơn – ông Phan Xuân V vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng nên Tòa án không có thu thập được lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Từ khi Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức thụ lý vụ án đến nay, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị M là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

[1] Quan hệ tranh chấp giữa bà Dương Thị M và ông Phan Xuân V là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, do đó căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp quận, huyện. Bị đơn cư trú tại Thành phố T, do đó căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Ông Phan Xuân V là bị đơn trong vụ án, trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông Phan Xuân V tất cả các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng ông Phan Xuân V đều không đến Tòa, không có đơn trình báo. Thái độ bất hợp tác của ông Phan Xuân V đã thể hiện sự không tôn trọng pháp luật, không tôn trọng Toà án, hành vi trên cũng đồng nghĩa với việc tự từ bỏ nghĩa vụ cũng như quyền lợi của mình mà pháp luật đã quy định; Nguyên đơn có đơn xin được vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

2. Về nội dung:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày của các đương sự thì bà Dương Thị M yêu cầu được ly hôn ông Phan Xuân V. Bà Dương Thị M và ông Phan Xuân V có 01 con chung, ly hôn ông Phan Xuân V nuôi con, bà không cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét, yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét:

[1] Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày cũng như yêu cầu của bà Dương Thị M, yêu cầu được ly hôn với ông Phan Xuân V, yêu cầu của bà Dương Thị M, Hội đồng xét xử xét: Bà Dương Thị M và ông Phan Xuân V tự nguyện chung sống và được Ủy ban nhân dân phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 47, ngày 05 tháng 07 năm 2019 nên hôn nhân giữa bà Dương Thị M và ông Phan Xuân V là hôn nhân hợp pháp đúng theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2] Trong quá trình chung sống, bà Dương Thị M cho rằng thời gian đầu của hôn nhân bà và ông Phan Xuân V sống với nhau rất hạnh phúc, cả hai luôn quan tâm chăm sóc đến nhau và khi có con chung cả hai đều tập trung lo cho con chung. Tuy nhiên, hạnh phúc giữa bà và ông Phan Xuân V kéo dài không lâu thì mất dần hạnh phúc nguyên nhân cơ bản là giữa bà và ông Phan Xuân V không cùng chung quan điểm sống, không cảm thông hay chia sẻ những vướng mắc trong cuộc sống, ông Phan Xuân V không tôn trọng bà, ông Phan Xuân V thường xuyên đánh đập bà. Bà thấy hiện tại bà và ông Phan Xuân V không còn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Hiện tại bà và ông Phan Xuân V đã sống ly thân, bà đã rời gia đình chồng và về sống tại nhà cha mẹ ruột tại Hậu Giang, ông Phan Xuân V và con gái đang sống cùng cha mẹ tại Thành phố T, bà không còn sống chung nhà với ông Phan Xuân V. Từ lời trình bày của bà Dương Thị M và qua hành vi không đến Tòa của ông Phan Xuân V đã cho thấy thực chất mâu thuẩn gia đình giữa bà Dương Thị M, ông ông Phan Xuân V là có thật và tồn tại trong khoảng thời gian dài, các bên đã không tích cực tìm cách giải quyết mâu thuẩn, trở về đoàn tụ, cùng chung lo hạnh phúc gia đình và tương lai của con, ngược lại cả hai đều bỏ mặc. Cách hành xử của bà Dương Thị M và ông Phan Xuân V đã thể hiện cả hai đã không còn thật sự yêu thương nhau, không còn tôn trọng Phan Xuân V sẽ không mang lại điều gì tốt đẹp mà chỉ gây tổn hại thêm cho cả hai phía. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà Dương Thị M là có căn cứ, đúng

theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.

[3] Trong quá trình tố tụng, ông Phan Xuân V đã biết việc bà Dương Thị M đã có đơn yêu cầu được ly hôn với ông, nhưng ông đã không đến Tòa, không có văn bản nêu ý kiến của mình. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về con chung: Theo lời khai của bà Dương Thị M, thì bà và ông Phan Xuân V có 01 con chung tên là Phan Tường V1 sinh ngày 19 tháng 12 năm 2019. Hiện tại con chung đang sống với ông Phan Xuân V. Ly hôn, bà Dương Thị M đồng ý để ông Phan Xuân V nuôi con, yêu cầu của bà Dương Thị M là có cơ sở, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con, theo lời trình bày của bà Dương Thị M thì hiện tại bà Dương Thị M đang thất nghiệp, sống nhờ vào cha mẹ ruột nên bà Dương Thị M yêu cầu không cấp dưỡng nuôi con. Theo quy định của pháp luật thì cần thiết phải đánh giá khả năng tài chính của ông Phan Xuân V, cụ thể là mức thu nhập để quyết định bà Dương Thị M có phải cấp dưỡng nuôi con hay không. Tuy nhiên ông Phan Xuân V không đến Tòa nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét khả năng tài chính của ông Phan Xuân V. Hội đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị M về việc bà Dương Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Dương Thị M không yêu cầu Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về án phí: Bà Dương Thị M có yêu cầu ly hôn nên bà Dương Thị M phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 198; Điều 220, Điều 227; Điều 271; Điều 273, Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 9; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
  • - Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị M.
  2. Bà Dương Thị M được ly hôn với ông Phan Xuân V.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 47 do Ủy ban nhân dân phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05 tháng 07 năm 2019 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Quan hệ hôn nhân giữa bà Dương Thị M và ông Phan Xuân V chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật;

  3. Về con chung: Giao ông Phan Xuân V nuôi con chung tên Phan Tường V1 sinh ngày 19 tháng 12 năm 2019. Bà Dương Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con.
  4. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.

    Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

  5. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Dương Thị M không yêu cầu Tòa án xem xét.
  6. Về án phí: Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ ( Ba trăm ngàn đồng), bà Dương Thị M phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) mà bà Dương Thị M đã nộp theo biên lai thu số 0027042 ngày 23 tháng 05 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lập . Bà Dương Thị M đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

  8. Về quyền kháng cáo:
  9. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản sao bản án tại chính quyền địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND TP Thủ Đức;
  • - Chi Cục THADS TP Thủ Đức;
  • - UBND phường Phước Bình, Quận 9 nay là
  • UBND phường Phước Bình, Thành phố Thủ
  • Đức, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Lũy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4400/2024/ HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 4400/2024/ HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger