Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 440/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 9 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo

Ông Trần Văn Mão

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Bà Trần Thị Tâm; Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại: trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 365/2024/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 438/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn C, sinh năm: 1985;

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

Hiện đang cư trú tại H chúng quốc Hoa Kỳ. Vắng mặt (lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong “Đơn khởi kiện” đề ngày 15/5/2024, Bản tự khai ngày 05/8/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày: Chị và anh Hoàng Văn C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 01/6/2011 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống. Đến năm 2017 anh C xuất cảnh sang Mỹ làm ăn thì mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm và vợ chồng cắt đứt mọi liên lạc, không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Hiện nay chị xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Hoàng Văn C. Tuy nhiên, do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên chị Nguyễn Thị M không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Hoàng Văn C tại Mỹ mà chỉ biết anh C vẫn thường xuyên liên lạc về với mẹ đẻ là bà Hồ Thị L, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An và bà L biết địa chỉ cụ thể của anh C ở Mỹ nên đề nghị Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

- Về con chung: Chị và anh Hoàng Văn C có hai con chung là cháu: Hoàng Nguyễn Băng T, sinh ngày 28/2/2014 và Hoàng Nguyễn Gia Đ, sinh ngày 22/9/2015. Hiện các con đang ở với chị M. Nay ly hôn chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Chị M không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn là anh Hoàng Văn C vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 12289/QLXNC- P3 ngày 13/6/2024 của Cục Q – Bộ C1 thì: “Hoàng Văn C, sinh ngày 20/10/1985 đã xuất nhập cảnh 13 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 08/3/2017, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Vì vậy, sau khi thụ lý, Tòa án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn đề nghị gia đình anh C cung cấp thông tin, địa chỉ của anh C ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử... nhưng anh C vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại biên bản lấy lời khai bà Hồ Thị L (mẹ đẻ anh Hoàng Văn C) trình bày: Anh Hoàng Văn C là con trai của bà. Hiện nay anh Hoàng Văn C đang sinh sống và làm việc tại đất nước Mỹ (H chúng quốc Hoa Kỳ). Anh Hoàng Văn C đi từ năm 2017 cho đến nay, còn địa chỉ cụ thể như thế nào bà không biết rõ. Giữa gia đình và anh C chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại và sử dụng mạng xã hội. Bà đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh Hoàng Văn C được biết, anh C nhất trí với việc chị Nguyễn Thị M xin ly hôn anh nhưng không cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài nên bà không thể cung cấp địa chỉ cụ thể của anh C ở nước ngoài cho Tòa án được. Hiện nay anh C và chị M có hai người con chung là Hoàng Nguyễn Băng T và Hoàng Nguyễn Gia Đ, cả hai cháu đang sống cùng với chị M. Sau khi được thông báo về việc chị M xin được nuôi cả hai con chung thì anh C cũng nhất trí, bởi vì hiện nay anh đang làm ăn ở xa chưa về, bao giờ anh về sẽ làm thủ tục thay đổi người nuôi con sau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ án: áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123 và 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • + Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Hoàng Văn C.
  • + Về con chung: giao hai cháu Hoàng Nguyễn Băng T, sinh ngày 28/2/2014 và Hoàng Nguyễn Gia Đ, sinh ngày 22/9/2015 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh C do chị M chưa có yêu cầu.
  • + Về tài sản, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
  • + Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 15/5/2024, chị Nguyễn Thị M có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Hoàng Văn C. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì chị M, anh C đều có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An nhưng từ khoảng năm 2016 thì anh C đã đi xuất khẩu lao động ở Mỹ đến nay chưa về nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh Hoàng Văn C là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Bị đơn anh Hoàng Văn C, hiện nay vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An nhưng đã đi xuất khẩu lao động tại Mỹ từ năm 2017, không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ nơi cư trú hiện nay tại nước ngoài. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ anh C ở nước ngoài nhưng theo bà Hồ Thị L (mẹ đẻ anh C) thì anh C tuy vẫn có liên hệ với gia đình và đã biết việc Toà án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị M nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên gia đình không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Hoàng Văn C.

[2]. Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị M và anh Hoàng Văn C được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hòa thuận nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2016 cho đến nay mà không quan tâm, liên lạc gì đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh C lại không có mặt tại Tòa án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là không dài nhưng đã ly thân nhiều năm nay mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, nguyên đơn chị M cũng kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị M yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị M, bà Hồ Thị L đều thống nhất trình bày: Vợ chồng chị M, anh C có hai con chung là Hoàng Nguyễn Băng T, sinh ngày 28/2/2014 và Hoàng Nguyễn Gia Đ, sinh ngày 22/9/2015. Hiện nay, cháu T và cháu Đ đang ở với chị M. Nay ly hôn, chị M xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy yêu cầu được nuôi con của chị M là hoàn toàn chính đáng và cũng phù hợp với nguyện vọng của hai cháu. Mặt khác, anh C hiện nay đang ở nước ngoài, bà L cũng không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú của anh C nên cần giao cả hai cháu cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con, điều kiện hoàn cảnh của các bên và quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chị M xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu nhưng không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét.

Anh C không trực tiếp nuôi con sau ly hôn nên có quyền đi lại thăm nom con chung; không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, chị M không yêu cầu Toà án giải quyết, anh C cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.

[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Hoàng Văn C.
  2. Về quan hệ con chung: Giao hai con chung là Hoàng Nguyễn Băng T, sinh ngày 28/2/2014 và Hoàng Nguyễn Gia Đ, sinh ngày 22/9/2015 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Nguyễn Thị M không yêu cầu và anh Hoàng Văn C cũng chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét.

Anh Hoàng Văn C có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Hoàng Văn C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Hoàng Văn C không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
  1. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0013063 ngày 05/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
  2. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Chị Nguyễn Thị M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Hoàng Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  3. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Thanh An, huyện Thanh Chương (theo Giấy ĐKKH số 17/2011 ngày 01/6/2011);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 440/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 440/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa chị M và anh C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger