Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————

Bản án số: 440/2024/DS-PT

Ngày: 22 - 8 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng góp hụi, tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Ngọt
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tỉnh
Bà Phạm Thị Thu Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Phương Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 193/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi, tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 93/2024/DS-ST ngày 09, 13 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2500/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa xét xử phúc thẩm số 2796/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim T, sinh năm 1987; (Có mặt)

Địa chỉ: ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn:

1. Bà Nguyễn Thị Huyền T1, sinh năm 1972;

2. Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1966;

Cùng địa chỉ: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Ông Đ ủy quyền cho bà T1 (Theo văn bản ủy quyền ngày 04 tháng 5 năm 2024) (Bà T1 có yêu cầu xét xử vắng mặt)

Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm

Tại đơn khởi kiện, biên bản hòa giải và phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim T trình bày:

Trước đây qua quen biết nên bà có biết bà Nguyễn Thị Huyền T1. Bà Nguyễn Thị Huyền T1 làm Hội Liên Hiệp Phụ Nữ xã P, huyện C. Trong thời gian này bà T1 có tổ chức chơi hụi và tôi có tham gia hụi do bà T1 tổ chức:

Dây hụi thứ nhất: Hụi khui ngày 25/02/2022 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 26 phần, bà T tham gia 01 phần, đóng hụi sống được 24 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 120.000.000 đồng, nay bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 117.500.000 đồng (120.000.0000 đồng - 2.500.000 đồng đầu thảo).

Dây hụi thứ hai: Hụi khui ngày 20/10/2022 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 25 phần, bà T tham gia 03 phần, đóng hụi sống được 16 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 48.000.000 đồng, nay bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 46.500.000 đồng (48.000.000 đồng - 1.500.000 đồng đầu thảo cho 3 phần hụi).

Dây hụi thứ ba: Hụi khui ngày 01/08/2022 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 25 phần, bà T tham gia 01 phần, đóng hụi sống được 18 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 90.000.000 đồng, nay bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 87.500.000 đồng (90.000.000 đồng - 2.500.000 đồng đầu thảo).

Dây hụi thứ tư: Hụi khui ngày 15/08/2022 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 25 phần, bà T tham gia 02 phần hụi, đóng hụi sống được 18 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 36.000.000 đồng, nay bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 35.000.000 đồng (36.000.000 đồng - 1.000.000 đồng đầu thảo cho 2 phần hụi).

Dây hụi thứ năm: Hụi khui ngày 20/01/2023 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 29 phần, bà T tham gia 01 phần, đóng hụi sống được 13 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 65.000.000 đồng, nay bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 62.500.000 đồng (65.000.000 đồng - 2.500.000 đồng đầu thảo).

Dây hụi thứ sáu: Hụi khui ngày 10/03/2023 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 25 phần, bà T tham gia 02 phần hụi, đóng hụi sống được 10 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 20.000.000 đồng, nay bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 19.000.000 đồng (20.000.000 đồng - 1.000.000 đồng đầu thảo cho 2 phần hụi).

Dây hụi thứ bảy: Hụi khui ngày 15/04/2023 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 30 phần, bà T tham gia 01 phần, đóng hụi sống được 9 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 45.000.000 đồng, nay bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 42.500.000 đồng (45.000.000 đồng - 2.500.000 đồng đầu thảo).

Dây hụi thứ tám: Hụi khui ngày 01/07/2023 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 26 phần, bà T tham gia 02 phần, đóng hụi sống được 06 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 12.000.000 đồng, nay bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 11.000.000 đồng (12.000.000 đồng - 1.000.000 đồng đầu thảo cho 2 phần hụi).

Dây hụi thứ chín: Hụi khui ngày 10/07/2023 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 30 phần, bà T tham gia 02 phần, đóng hụi sống được 06 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 60.000.000 đồng, nay bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 55.000.000 đồng (60.000.000 đồng - 5.000.000 đồng đầu thảo cho 2 phần hụi).

Dây hụi thứ mười: Hụi khui ngày 25/10/2023 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 22 phần, bà T tham gia 02 phần, đóng hụi sống được 03 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 6.000.000 đồng, nay bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 5.000.000 đồng (6.000.000 đồng - 1.000.000 đồng đầu thảo của 2 phần hụi).

Ngoài ra, vào ngày 16/10/2022 âm lịch bà T có cho bà Nguyễn Thị Huyền T1 mượn số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), không lãi suất, không có hẹn ngày trả tiền.

Ông Phan Văn Đ là chồng bà T1 trong thời kỳ hôn nhân và bà T1 làm hụi cũng như vay tiền là nhằm mục đích chăm lo kinh tế gia đình.

Vì vậy, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Huyền T1 và ông Phan Văn Đ cùng liên đới trả lại cho bà T tổng số tiền hụi 481.500.000 đồng và tiền vay là 100.000.000 đồng, tổng cộng là 581.500.000 đồng, bà T không yêu cầu tính lãi.

Tại văn bản trình bày ý kiến và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T1 trình bày: Bà T có tham gia chơi hụi do bà T1 làm chủ hụi, các dây hụi như sau:

Dây hụi thứ nhất: Hụi khui ngày 25/02/2022 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 26 phần, T tham gia 01 phần hụi, đóng được 24 tháng, số tiền đã đóng là 66.750.000 đồng

Dây hụi thứ hai: Hụi khui ngày 20/10/2022 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng. gồm 25 phần, bà T tham gia 03 phần, đóng được 16 tháng, còn 1 phần ghi tên chị C là bà T đứng ra chơi dùm, nhưng sau bà C đứng ra đóng và bà T1 chỉ đồng ý trả cho bà T 3 phần của bà T tham gia, số tiền đã đóng là 31.050.000 đồng.

Dây hụi thứ ba: Hụi khui ngày 01/08/2022 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 25 phần, bà T tham gia 01 phần hụi, đóng hụi sống được 18 tháng, số tiền đã đóng là 54.630.000 đồng.

Dây hụi thứ tư: Hụi khui ngày 15/08/2022 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 25 phần, bà T tham gia 02 phần, đóng hụi sống được 18 tháng, số tiền đã đóng là 24.320.000 đồng.

Dây hụi thứ năm: Hụi khui ngày 20/01/2023 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 29 phần, bà T tham gia 01 phần, đóng hụi sống được 13 tháng, số tiền đã đóng là 37.450.000 đồng.

Dây hụi thứ sáu: Hụi khui ngày 10/03/2023 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 25 phần, bà T tham gia 02 phần hụi, đóng hụi sống được 10 tháng, số tiền đã đóng là 13.240.000 đồng.

Dây hụi thứ bảy: Hụi khui ngày 15/04/2023 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 30 phần, bà T tham gia 01 phần hụi, đóng hụi sống được 9 tháng, số tiền đã đóng 26.560.000 đồng.

Dây hụi thứ tám: Hụi khui ngày 01/07/2023 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 26 phần, bà T tham gia 02 phần hụi, đóng hụi sống được 06 tháng, số tiền đã đóng 8.380.000 đồng.

Dây hụi thứ chín: Hụi khui ngày 10/07/2023 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 30 phần, bà T tham gia 02 phần hụi, đóng hụi sống được 06 tháng, số tiền đã đóng 39.020.000 đồng.

Dây hụi thứ mười: Hụi khui ngày 25/10/2023 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 22 phần, bà T tham gia 02 phần, đóng hụi sống được 03 tháng, số tiền đã đóng 4.360.000 đồng.

Ngoài ra, bà T1 còn thừa nhận có vay của bà T số tiền vay là 100.000.000 đồng.

Do đó, bà T1 đồng ý trả cho bà T tổng số tiền hụi đã đóng là 305.760.000 đồng và 100.000.000 đồng tiền vay, tổng cộng là 405.760.000 đồng.

Theo biên bản hòa giải ngày 26/3/2024, ông Đ thống nhất với lời trình bày của vợ ông và đồng ý cùng liên đới với bà T1 trả nợ.

Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 93/2024/DS-ST ngày 09, 13 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách quyết định:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 111, 112, 126, 138, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim T đối với bà Nguyễn Thị Huyền T1 và ông Phan Văn Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị Huyền T1 và ông Phan Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Huỳnh Thị Kim T số tiền tổng cộng là 581.500.000đ (Năm trăm tám mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng), trong đó số tiền hụi là 481.500.000₫ (Bốn trăm tám mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng) và số tiền vay là 100.000.000₫ (Một trăm triệu đồng).

  3. Tiếp tục duy trì áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 01/2024/QĐ- BPKCTT ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 27/5/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T1 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 93/2024/DS-ST ngày 09, 13/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị Huyền T1 có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim T không đồng ý kháng cáo của bà T1 và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn kháng cáo và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ. Kháng cáo của phía bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tuyên xử theo hướng không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T1; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 93/2024/DSST ngày 09, 13/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Huyền T1, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T1 kháng cáo và gửi thủ tục kháng cáo hợp lệ trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm; bà Nguyễn Thị Huyền T1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T1.

Về nội dung:

[1] Quá trình tố tụng bà T1 thừa nhận bà T có tham gia chơi hụi do bà T1 làm chủ hụi, sự thừa nhận của bà T1 là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Các dây hụi bà T tham gia như sau:

Dây hụi thứ nhất: Hụi khui ngày 25/02/2022 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 26 phần, bà T tham gia 01 phần, đóng hụi sống được 24 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 120.000.000 đồng, bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 117.500.000 đồng (120.000.0000 đồng - 2.500.000 đồng đầu thảo). Còn bà T1 thì xin trả cho bà T số tiền mà bà T đóng hụi là 66.750.000 đồng.

Dây hụi thứ hai: Hụi khui ngày 20/10/2022 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 25 phần, bà T tham gia 03 phần hụi, đóng hụi sống được 16 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 48.000.000 đồng, bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 46.500.000 đồng (48.000.000 đồng - 1.500.000 đồng đầu thảo cho 3 phần hụi). Còn bà T1 thì xin trả cho bà T số tiền mà bà T đóng hụi là 31.050.000 đồng.

Dây hụi thứ ba: Hụi khui ngày 01/08/2022 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 25 phần, bà T tham gia 01 phần, đóng hụi sống được 18 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 90.000.000 đồng, bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 87.500.000 đồng (90.000.000 đồng - 2.500.000 đồng đầu thảo). Còn bà T1 thì xin trả cho bà T số tiền mà bà T đóng hụi là 54.630.000 đồng.

Dây hụi thứ tư: Hụi khui ngày 15/08/2022 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 25 phần, bà T tham gia 02 phần hụi, đóng hụi sống được 18 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 36.000.000 đồng, bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 35.000.000 đồng (36.000.000 đồng - 1.000.000 đồng đầu thảo cho 2 phần hụi). Còn bà T1 thì xin trả cho bà T số tiền mà bà T đóng hụi là 24.320.000 đồng.

Dây hụi thứ năm: Hụi khui ngày 20/01/2023 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 29 phần, bà T tham gia 01 phần, đóng hụi sống được 13 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 65.000.000 đồng, bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 62.500.000 đồng (65.000.000 đồng - 2.500.000 đồng đầu thảo). Còn bà T1 thì xin trả cho bà T số tiền mà bà T đóng hụi là 37.450.000 đồng.

Dây hụi thứ sáu: Hụi khui ngày 10/03/2023 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 25 phần, bà T tham gia 02 phần hụi, đóng hụi sống được 10 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 20.000.000 đồng, bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 19.000.000 đồng (20.000.000 đồng - 1.000.000 đồng đầu thảo). Còn bà T1 thì xin trả cho bà T số tiền mà bà T đóng hụi là 13.240.000 đồng.

Dây hụi thứ bảy: Hụi khui ngày 15/04/2023 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 30 phần, bà T tham gia 01 phần, đóng hụi sống được 9 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 45.000.000 đồng, bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 42.500.000 đồng (45.000.000 đồng - 2.500.000 đồng đầu thảo). Còn bà T1 thì xin trả cho bà T số tiền mà bà T đóng hụi là 26.560.000 đồng.

Dây hụi thứ tám: Hụi khui ngày 01/07/2023 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 26 phần, bà T tham gia 02 phần, đóng hụi sống được 06 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 12.000.000 đồng, bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 11.000.000 đồng (12.000.000 đồng - 1.000.000 đồng đầu thảo cho 2 phần hụi). Còn bà T1 thì xin trả cho bà T số tiền mà bà T đóng hụi là 8.380.000 đồng.

Dây hụi thứ chín: Hụi khui ngày 10/07/2023 (âm lịch), hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 30 phần, bà T tham gia 02 phần, đóng hụi sống được 06 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 60.000.000 đồng, bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 55.000.000 đồng (60.000.000 đồng - 5.000.000 đồng đầu thảo cho 2 phần hụi). Còn bà T1 thì xin trả cho bà T số tiền mà bà T đóng hụi là 39.020.000 đồng.

Dây hụi thứ mười: Hụi khui ngày 25/10/2023 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 22 phần, bà T tham gia 02 phần, đóng hụi sống được 03 tháng thì bà T1 úp hụi không thu hụi nữa (bể hụi), tổng số tiền là 6.000.000 đồng, bà T yêu cầu bà T1 trả số tiền 5.000.000 đồng (6.000.000 đồng - 1.000.000 đồng đầu thảo của 2 phần hụi). Còn bà T1 thì xin trả cho bà T số tiền mà bà T đóng hụi là 4.360.000 đồng.

Ngoài ra bà T1 thừa nhận còn nợ bà T số tiền vay là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).

[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T1, nhận thấy:

[2.1] Bà T1 thừa nhận các dây hụi mà T tham gia, số phần hụi và thời gian đóng hụi phù hợp với lời trình bày của bà T. Các dây hụi trên là hụi có lãi. Do đó, thành viên tham gia hụi đã hốt hụi thì có nghĩa vụ trả lãi cho các thành viên chưa hốt hụi. Còn bà T1 là chủ hụi đứng ra tổ chức, quản lý dây hụi, có nghĩa vụ thu các phần hụi và giao các phần hụi đó cho thành viên được lĩnh hụi trong mỗi kỳ mở hụi cho tới khi kết thúc dây hụi. Mặc dù hiện nay bà T1 không còn tổ chức hụi tiếp tục nhưng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của chủ hụi như nhận định nêu trên. Bà T tham gia đóng hụi nhưng chưa hốt hụi nên bà T1 phải có nghĩa vụ gom hụi của các thành viên đã hốt hụi để giao hụi lại cho bà T với số tiền hụi mà bà T yêu cầu của mỗi dây hụi nêu trên và bà T đồng ý trả tiền đầu thảo cho bà T1 đối với mỗi phần hụi là phù hợp. Việc bà T1 kháng cáo thỏa thuận trả lại số tiền hụi mà bà T đã đóng nhưng không được sự chấp nhận của bà T. Quá trình giải quyết vụ án, chồng bà T1 là ông Phan Văn Đ đồng ý liên đới cùng bà T1 trả nợ cho bà T. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc bà T1 và ông Đ phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà T số tiền nợ hụi 481.500.000 đồng và 100.000.000 đồng tiền vay là có căn cứ.

[2.2] Bà T1 kháng cáo nhưng không có chứng cứ mới chứng minh tại phiên tòa phúc thẩm nên kháng cáo của bà T1 là không có căn cứ để chấp nhận.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T1; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 93/2024/DS-ST ngày 09, 13/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T1 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Huyền T1;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 93/2024/DS-ST ngày 09, 13 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 111, 112, 126, 138, 147, 271, 273 và khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ vào Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim T đối với bà Nguyễn Thị Huyền T1 và ông Phan Văn Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị Huyền T1 và ông Phan Văn Đ phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Huỳnh Thị Kim T số tiền tổng cộng là 581.500.000đ (Năm trăm tám mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng), trong đó số tiền hụi là 481.500.000₫ (Bốn trăm tám mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng) và số tiền vay là 100.000.000₫ (Một trăm triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Tiếp tục duy trì áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 01/2024/QĐ- BPKCTT ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Bà Nguyễn Thị Huyền T1 và ông Phan Văn Đ phải có trách nhiệm liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 27.260.000₫ (Hai mươi bảy triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng).
    2. Hoàn trả lại cho bà Huỳnh Thị Kim T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.280.000₫ (Mười bảy triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001427 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
  5. Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Huyền T1 phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T1 đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000907 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Bà T1 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - TAND huyện Chợ Lách (1b);
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Lách (1b);
  • - Các đương sự (4b);
  • - Phòng KTNV&THAHS tỉnh Bến Tre (2b);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Ngọt

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tỉnh

Phạm Thị Thu Trang

Phạm Văn Ngọt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 440/2024/DS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng góp hụi, tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 440/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi, tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng góp hụi, tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger