|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:44/2024/HS-ST Ngày: 30 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Đức Hoàn
- Ông Bùi Trung Thành
+ Tại điểm cầu trung tâm: Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Trọng H - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Bà Hoàng Thị L - Kiểm sát viên
+ Tại điểm cầu thành phần: Bà Phạm Diệu L1 - Chuyên viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai (bằng hình thức trực tuyến) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:50/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:46/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn H1 - Sinh ngày 01/01/1975 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính N; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Lê Đức T (đã chết); Con bà: Lê Thị C (đã chết); Vợ con chưa có. Tiền sự: Không.
Tiền án: Năm 2008 bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 08 năm 06 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tại Bản án số:107/2008/HSST ngày 21/5/2008, ngày 03/9/2013 chấp hành xong hình phạt tù. Năm 2016 bị Toà án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 09 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tại Bản án số: 30/2016/HSST ngày 08/11/2016, ngày 02/3/2022 chấp hành xong án phạt tù.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Những người làm chứng:
- Trịnh Doãn A, sinh năm: 1971 (Vắng mặt)
- Lê Văn T1, sinh năm: 1976 (Vắng mặt)
- Vương Công H2, sinh năm: 1989 (Vắng mặt)
- Đặng Thị L2, sinh năm: 1990 (Vắng mặt)
- Lê Nhật H3, sinh năm: 1988 (Vắng mặt)
- Quách Thị T2, sinh năm: 1986 (Có mặt)
- Dương Ngọc T3, sinh năm: 1959 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn M, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Xóm T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 26/4/2024 tổ công tác thuộc Phòng PC04 Công an tỉnh T phối hợp với Công an huyện N và Công an xã M, huyện N tiến hành kiểm tra phòng nghỉ số 101 nhà nghỉ H4, tại thôn M, xã M, huyện N phát hiện có 03 đối tượng gồm: Lê Văn H1, trú tại thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Trịnh Doãn A, trú tại thôn M, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và Lê Văn T1, trú tại xóm T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa có dấu hiệu tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (loại hồng phiến). H1 và A khai đã sử dụng trái phép chất ma tuý, T1 khai không sử dụng chất ma tuý. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, đưa các đối tượng cùng tang vật về trụ sở tiếp tục xác minh, làm rõ. Ngày 27/4/2024 Lê Văn H1 đến cơ quan điều tra đầu thú, khai nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho Trịnh Doãn A.
Quá trình điều tra xác định: Sáng ngày 25/4/2024 Lê Văn H1 đi xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, biển kiểm soát 36B3-151.40 đến huyện M, tỉnh Hòa Bình tìm mua chó. Khi đến địa phận xã B, huyện M, tỉnh Hòa Bình, H1 dừng hỏi thăm một người đàn ông lạ mặt ven đường hỏi tìm mua chó, khi gặp nói chuyện với người đàn ông đó, H1 ngửi thấy trên người đàn ông có mùi ma tuý, H1 đã nảy sinh ý định mua ma túy đem về sử dụng nên đã nhờ người đàn
ông đó mua 1.000.000 đồng ma túy loại hồng phiến. Người đàn ông đồng ý, H1 đưa trước cho người đàn ông số tiền 500.000 đồng, nhận tiền xong, người đàn ông đi được khoảng 30 phút quay lại đưa cho H1 08 viên ma túy loại Methamphetamine được gói trong giấy bạc. Sau khi nhận ma túy, H1 đưa số tiền còn lại 500.000 đồng cho người đàn ông. Đến tối cùng ngày, H1 quay về và đến nhà nghỉ H4 thuê phòng số 101 mục đích để sử dụng số ma túy. H1 chuẩn bị giấy bạc, bật lửa, dùng con dao chặt cành tre cắm vào chai nước lọc có sẵn trong phòng nghỉ để hút ma túy. Sau đó H1 một mình sử dụng hết 06 viên ma túy, còn lại 02 viên H1 gọi điện thoại cho Trịnh Doãn A đến để sử dụng, nhưng An bận không đến và hẹn đến sáng ngày 26/4/2024 đến sử dụng cùng với H1. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 26/4/2024, A đi xe ôm đến và đi vào phòng 101 nhà nghỉ H4. Tại phòng 101 H1 đưa cho A 02 viên ma tuý còn lại để sử dụng và chỉ cho A lấy bình hút ở dưới nền nhà, giấy bạc trong hộp nhựa trên bàn để sử dụng. Sau khi được H1 chỉ chỗ dụng cụ sử dụng ma tuý, A cầm bình lên, lấy 01 viên ma túy trên bàn để vào giấy bạc và đưa cho H1 dùng bật lửa đốt, A cầm bình hút. Khi A đang sử dụng ma tuý thì Lê Văn T1 đi vào phòng, A rủ T1 sử dụng ma túy nhưng T1 không sử dụng mà chỉ nằm chơi trong phòng. Sau khi A sử dụng xong, thì H1 tiếp tục sử dụng viên ma tuý còn lại. Ngay sau đó, lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện hành vi sử dụng ma tuý của H1 và A, tiến hành lập biên bản, thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan để điều tra làm rõ.
Tại Kết luận giám định số: 1747/KL-KTHS, ngày 02/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T đã kết luận: “Tìm thấy chất ma tuý, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Lê Văn T1, Lê Văn H1, Trịnh Doãn A gửi đến giám định”
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, dạng bàn phím và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa, 01 “nỏ” hút bằng cành tre, 01 bật lửa, 01 giấy bạc, 01 hộp nhựa đựng các mẩu giấy bạc; 01 con dao thu giữ của Lê Văn H1 là công cụ, phương tiện phạm tội sẽ chuyển đến kho vật chứng của Cơ quan thi hành án dân sự huyện N để phục vụ công tác xét xử và thi hành án.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, loại màn hình cảm ứng thu giữ của Lê Văn H1, quá trình điều tra xác định H1 không sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho H1 theo quy định;
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, gắn biển kiểm soát 36B3-151.40, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu nên tiếp tục tạm giữ tại kho vật chứng của Công an huyện N để điều tra xử lý sau khi có căn cứ.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave a, gắn biển kiểm soát 36M1-104.69 thu giữ của Trịnh Doãn A, quá trình điều tra xác định chiếc
xe mô tô trên có liên quan đến vụ án khác nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã chuyển theo vụ án để điều tra xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Bản cáo trạng số: 49/CT-VKS - NL ngày 07/8/2024 của VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Văn H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Lê Văn H1 từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/4/2024.
- Về xử lý vật chứng:
Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa, 01 nỏ hút bằng tre, 01bật lửa gas, 01 giấy bạc, 01 hộp nhựa đựng các mẫu giấy bạc, 01 con dao thu giữ của Lê Văn H1.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động NOKIA màu đen loại máy bàn phím đã qua sử dụng
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có tài sản riêng, công việc không ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thống nhất với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa đã thể hiện rõ: Khoảng 10 giờ ngày 26/4/2024 Lê Văn H1 đã thực hiện hành vi gọi điện thoại, chuẩn bị dụng cụ, đưa
ma tuý cho Trịnh Doãn A sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine, tại nhà nghỉ H4 ở thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Ngoài ra, ngày 08/11/2016 Lê Văn H1 đã bị Toà án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” bản án đã áp dụng tình tiết “Tái phạm nguy hiểm”, đến ngày 02/3/2022 Lê Văn H1 chấp hành xong án phạt tù, đã tái phạm chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, hành vi của Lê Văn H1 cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm h, khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, hành vi phạm tội: Trong những năm qua tình hình về tội phạm ma túy dưới mọi hình thức trong cả nước nói chung và trên địa bàn huyện N nói riêng ngày càng tăng. Các vụ án ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, tình trạng sử dụng ma túy diễn ra ngày càng nhiều. Có thể nói ma túy là một tệ nạn đang nhức nhối nhất hiện nay mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta đã và đang quyết tâm loại trừ ra khỏi đời sống xã hội, vì ma tuý có tác hại nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ, hạnh phúc của mọi người, mọi nhà, làm suy thoái về giống nòi, suy đồi về đạo đức, lối sống, ma tuý làm lây lan căn bệnh thế kỷ HIV, do ma tuý mà một loạt các tội phạm khác gia tăng. Bị cáo đủ nhận thức để hiểu được những tác hại do ma túy gây ra và các hành vi về tàng trữ, mua bán, sử dụng, lôi kéo người khác đều vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội cũng như tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải lên cho bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân của bị cáo: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “Thành khẩn khai báo” sau khi phạm tội bị cáo đã ra “đầu thú” quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có tiền án đó là: Tại bản án số: 107/2008/HS- ST ngày 21/5/2008 bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 08 năm 06 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ngày 03/9/2013 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; Tại Bản án số: 30/2016/HS-ST ngày 08/11/2016 bị Toà án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 09 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đến ngày 02/3/2022 bị cáo chấp hành xong án phạt tù.
Với các tình tiết và nhân thân nêu trên chứng tỏ bị cáo là người không có ý thức cải tạo thành người công dân tốt, tỏ thái độ coi thường pháp luật. Do đó hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm, để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật, cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.
[5] Đối với Lê Văn H1 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào tối ngày 25/4/2024 tại nhà nghỉ H4, Công an huyện N đã xử phạt hành chính
theo quy định. Đối với người đàn ông lạ mặt mà H1 nhờ mua ma tuý tại xã B, huyện M, tỉnh Hòa Bình, quá trình điều tra không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.
[6] Đối với Lê Văn T1 ngày 26/4/2024 có mặt tại nhà nghỉ H4 nhưng T1 không sử dụng chất ma túy tại đó, mà sử dụng chất ma tuý vào ngày 22/4/2024 tại nhà riêng ở xóm T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, Công an huyện N đã xử phạt hành chính theo quy định. Đối với người đàn ông cho T1 ma túy sử dụng, quá trình điều tra không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.
[7] Đối với Vương Công H2 là chủ kinh doanh nhà nghỉ H4. Để xảy ra việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà nghỉ thuộc quyền quản lý của mình đã vi phạm quy định tại Nghị định số 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ, Công an huyện N đã chuyển hồ sơ đến UBND huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Vương Công H2 theo quy định.
[8] Về xử lý vật chứng:
Bộ D sử dụng ma túy bao gồm: 01 chai nhựa, 01 nỏ hút bằng tre, 01bật lửa gas, 01 giấy bạc, 01 hộp nhựa đựng các mẫu giấy bạc, 01 con dao thu giữ của Lê Văn H1, đây là vật chứng liên quan đến vụ án không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động NOKIA màu đen loại máy bàn phím đã qua sử dụng, là vật chứng liên quan đến vụ án bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
[9] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản cá nhân có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[10] Về án phí: Bị cáo Lê Văn H1 phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn H1.
Tuyên bố: Lê Văn H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Lê Văn H1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng) tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/4/2024.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy: 01 chai nhựa, 01 nỏ hút bằng tre, 01bật lửa gas, 01 giấy bạc, 01 hộp nhựa đựng các mẫu giấy bạc, 01 con dao thu giữ của Lê Văn H1.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động NOKIA màu đen loại máy bàn phím đã qua sử dụng.
Hiện vật chứng, tài sản đang được nhập kho Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa theo phiếu nhập kho và lệnh nhập kho số: NK 2024/053 ngày 09/8/2024.
Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Lê Văn H1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử trực tuyến công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Xuân Thành |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
