Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐĂK HÀ

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

Bản án số: 44/2024/HS-ST

Ngày: 30-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hữu Sơn
  2. Ông Vũ Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Huynh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường Nhà văn hóa xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/HSST ngày 09 tháng 7 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

Bị cáo thứ nhất: Phạm Văn N (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 10 tháng 10 năm 1968; tại: tỉnh Thái Bình.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: TDP C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn N1 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T (Đã chết). Bị cáo có vợ là Lê Thị L, sinh năm 1967 (Đã ly hôn) và 02 con lớn nhất sinh năm 1988 và nhỏ nhất sinh năm 1992. Bị cáo là con thứ tư trong gia đình có 06 anh, chị, em.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.

Bị cáo thứ hai: A T1 (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 3 năm 1993; tại: tỉnh Kon Tum.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Xơ Đăng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông A G, sinh năm 1962 và bà Y T2, sinh năm 1966. Bị cáo chưa có vợ, con. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 05 anh, em.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.

Bị cáo thứ ba: Nguyễn M (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 10 tháng 8 năm 1977; tại: tỉnh Lâm Đồng

Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã K, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

Nơi ở hiện nay: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn L1 (Đã chết) và bà Mai Thị Đ; Sinh năm: 1941. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Kim Đ1; Sinh năm: 1983 (Đã ly hôn) hiện sống như vợ chồng với Y Đ2, sinh năm: 1987. Bị cáo có 03 con lớn nhất sinh năm 2005 và nhỏ nhất sinh năm 2021. Bị cáo là con thứ bảy trong gia đình có 08 anh, chị, em.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.

Bị cáo thứ tư: Nguyễn Văn V (Tên gọi khác: Không) sinh ngày 28 tháng 11 năm 1986; tại: tỉnh Kon Tum

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: TDP C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C; Sinh năm: 1948 và bà Trần Thị B; Sinh năm: 1952. Bị cáo có vợ là Trương Thụy Quỳnh N2; Sinh năm: 1988 và 01 con sinh năm: 2010. Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 04 anh, chị, em.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.

Bị cáo thứ năm: A N3 (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 18 tháng 01 năm 2000; tại: tỉnh Kon Tum.

Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

Chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Xơ Đăng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông A G1 (Đã chết) và bà Y T3; Sinh năm: 1982. Bị cáo có vợ là Y T4, sinh năm: 2000 chưa có con. Bị cáo là con lớn trong gia đình có 06 anh, em.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.

Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện Đ.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà T5 – Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ.

Địa chỉ: TDP A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Chí C1, sinh năm 1980.
  2. Địa chỉ: TDP C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

  3. A D, sinh năm 1988.
  4. Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

  5. A N4, sinh năm 1963.
  6. Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

  7. A H, sinh năm 1958.
  8. Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

  9. A K, sinh năm 1959.
  10. Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

  11. A Sa L2, sinh năm 1985.
  12. Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

  13. A S, sinh năm 1970.
  14. Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

  15. Chị Trương Thụy Quỳnh N2, sinh năm 1988.
  16. Địa chỉ: TDP C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

  17. Ông Phạm Văn T6, sinh năm 1970.
  18. Địa chỉ: TDP C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

  19. Chị Y T7, sinh năm 2005.
  20. Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt).

  21. Ông Nguyễn C2, sinh năm 1959.
  22. Địa chỉ; Thôn C, xã K, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

  23. Cộng đồng dân cư Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
  24. Người đại diện hợp pháp: Ông A S1 – Chức vụ: Thôn trưởng.

    Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

  25. Ủy ban nhân dân xã Đ
  26. Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Công Á – Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ.

    Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 10/2023, Phạm Văn N thuê A T1 đi phụ khai thác gỗ trái phép tại tiểu khu C rừng sản xuất là rừng tự nhiên thuộc thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum với tiền công dao động từ 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi ngàn đồng) đến 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi ngàn đồng) tùy theo khối lượng công việc; Tuyếng về rủ em rể của mình là A N3 đi lên rừng phụ Nhuệ cắt gỗ sẽ được Nhuệ trả một ngày công 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) thì N3 đồng ý. Trước đó, N3 đã được N thuê dùng cuốc san, lấp các hố trên đường đi đến tiểu khu C trong 01 (một) ngày với tiền công 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi ngàn đồng) mục đích để Nhuệ vận chuyển gỗ sau khi khai thác trái phép được thuận tiện. Khoảng 05 (năm) ngày sau, T1 chở N3 bằng xe mô tô độ chế của T1 đến chòi rẫy của T1 rồi cất xe và đi bộ đến chòi rẫy của N tại thôn K để đi khai thác gỗ trái phép. Lúc này, N điều khiển xe độ chế (xe Bò Nghé) có gắn bộ cáp tời, chở T1, N3 cùng 01 (một) máy cưa lốc, vỏ bọc làm bằng nhựa, màu đỏ, hiệu Husqvarna của N. Khi đến khu vực khai thác, N sử dụng máy cưa lốc cưa hạ 06 (Sáu) cây gỗ đứng, đường kính khoảng (30-50)cm; Nhuệ cắt gọn 06 (Sáu) cây đã cưa hạ thành 06 (Sáu) lóng gỗ tròn dài khoảng 04m rồi T1N3 dọn dẹp cành, nhánh cây, kéo móc cáp tời vào các lóng gỗ; Nhuệ điều khiển cáp tời gắn trên đầu xe độ chế kéo 06 (Sáu) lóng gỗ lên thùng xe rồi điều khiển xe chở gỗ về bãi tập kết gần rẫy mì của T1. Sau đó, N hẹn T1N3 khoảng 19 giờ cùng ngày đến chỗ xe độ để sang gỗ; T1N3 đồng ý rồi đi về chòi rẫy của T1. Đến giờ, T8N3 đến vị trí xe độ, chờ một lúc thấy N điều khiển xe ô tô tải loại Hoa Mai màu xanh, biển kiểm soát 82C-015.68 đến và đậu đối đít với xe độ. Tại đây, N điều khiển bộ cáp tời của xe độ, còn T1N3 một người dùng xà beng của N để sẵn trên xe độ bẩy đầu các lóng gỗ tròn, người còn lại móc cáp tời vào đầu lóng gỗ rồi cả hai đẩy các lóng gỗ từ thùng xe độ sang thùng xe ô tô tải Hoa Mai. Khi đưa được toàn bộ số lóng gỗ sang xe tải, N lái xe độ chế đi cất giấu rồi quay lại điều khiển xe Hoa Mai chở số gỗ trên rời đi còn T1N3 đi về.

Đến tháng 12/2023, N tiếp tục thuê T1 cùng với Nguyễn MNguyễn Văn V đi phụ việc khai thác, vận chuyển gỗ trái phép và sẽ trả tiền công 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) cho mỗi lần đi làm. Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 12/2023 đến cuối tháng 12/2023, T1 cùng N khai thác gỗ trái phép tại khu vực rừng sản xuất là rừng tự nhiên tại tiểu khu C thuộc thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum 05 (Năm) lần, trong đó 02 (Hai) lần có sự tham gia của M, V. Cụ thể các lần khai thác, vận chuyển gỗ như sau:

  • Lần thứ nhất: Nhuệ cùng T1 mang theo 01 (một) máy cưa lốc của N lên khu vực đã khai thác gỗ trước đó tại tiểu khu C thuộc thôn K; Nhuệ sử dụng máy cưa lốc cưa hạ khoảng 08 (T9) cây gỗ đứng, đường kính khoảng (30-50)cm, Nhuệ cắt gọn thành các lóng gỗ tròn, mỗi lóng dài khoảng 4m. Sau đó, T1 phụ đưa số gỗ trên lên thùng xe độ rồi N điều khiển xe độ chở số gỗ về bãi tập kết gần rẫy mì của T1. Đến tối cùng ngày, N, M, VT1 chuyển số gỗ đã khai thác trái phép được từ thùng xe độ sang thùng xe ô tô tải Hoa Mai rồi N điều khiển xe ô tô tải chở số gỗ này đi.
  • Lần thứ hai: Nhuệ cùng T1 mang theo 01 (một) máy cưa lốc của N tiếp tục lên khu vực rừng tại tiểu khu C để khai thác gỗ trái phép. Sau khi N cưa hạ khoảng 06 (sáu) cây gỗ đứng, đường kính dao động từ (30-50)cm và được cắt thành các lóng gỗ tròn, mỗi lóng dài khoảng 04m thì T1 cùng N đưa số gỗ đã khai thác lên thùng xe độ rồi N điều khiển xe độ chở số gỗ trên về gần rẫy mì của T1. Đến tối cùng ngày, N, M, VT1 chuyển số gỗ từ thùng xe độ sang thùng xe ô tô tải Hoa Mai rồi N điều khiển xe ô tô tải chở số gỗ trên đi.
  • Lần thứ ba: Nhuệ mang theo 01 (một) máy cưa lốc của NT1 cũng mang theo 01 (một) máy cưa lốc của T1 đến khu vực rừng tại tiểu khu C khai thác gỗ trái phép. Tại đây, N sử dụng máy cưa lốc của mình cắt hạ khoảng 07 (Bảy) cây gỗ đứng, đường kính dao động từ (30-50)cm rồi Nhuệ cắt thành các lóng gỗ tròn, mỗi lóng dài khoảng 04m; T1 sử dụng máy cưa lốc của mình cắt tỉa những cành, nhánh bị vướng. Sau đó, T1 phụ móc cáp vào các đầu lóng gỗ để N điều khiển tời đưa gỗ lên thùng xe độ sau đó N điều khiển xe độ chở gỗ về đỗ tại bụi rậm thuộc thôn K, xã Đ rồi cả hai đi về.
  • Lần thứ tư: Nhuệ, MT1 lên khu vực rừng tại tiểu khu C khai thác gỗ trái phép. Tại đây, N dùng máy cưa lốc hiệu Husqvarna cưa hạ 04 (Bốn) cây gỗ đứng, M dùng cưa lốc loại 381, vỏ nhựa màu vàng (của N) cưa hạ 02 (Hai) cây gỗ đứng, đường kính các cây dao động từ (30-50)cm. Sau khi cắt hạ xong, máy cưa lốc M sử dụng bị hỏng nên N nói M mang đi sửa. Trước đó, N gặp V tại chòi rẫy và nói V tý lên khu vực khai thác gỗ phụ móc cáp tời, tời gỗ lên xe độ nên khoảng 14 giờ 30 cùng ngày, V đến bãi khai thác thì gặp M vác cưa đi ra, M nói với V “cưa bị hư, đem về sửa”; V đến bãi phụ giúp việc khai thác gỗ. Sau khi khai thác 06 (Sáu) cây gỗ được cắt thành các lóng gỗ tròn, mỗi lóng dài khoảng 04m thì VT1 phụ đưa số gỗ này lên thùng xe độ, N điều khiển xe độ chở số gỗ này về đổ tại bụi rậm (vị trí đã đổ số gỗ khai thác lần thứ ba) rồi tất cả đi về. Riêng M khi đưa máy cưa đến tiện sửa chữa tại ngã ba xã Đ để sửa nhưng do cưa bị hỏng nặng, sửa tốn nhiều tiền nên M dùng điện thoại di động hiệu ViVo U10 gắn thẻ sim số “0337.799.755” của mình gọi đến số “0383.801.345” của N để thông báo thì N nói cho M bán phế liệu lấy tiền tiêu xài. Lúc này, M gặp một người phụ nữ thu mua phế liệu, đi xe mô tô kiểu dáng Honda Cup, loại 50cm³ tại khu vực ngã ba xã Đ và bán máy cưa lốc này được số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiêu xài cá nhân hết số tiền này. Khoảng vài ngày sau, N, T1, MV đến vị trí đã cất giấu số lóng gỗ tại bụi rậm (vị trí đổ số lóng gỗ khai thác lần thứ ba và lần thứ tư), chuyển các lóng gỗ được cất giấu tại đây lên thùng xe độ rồi N điều khiển xe độ chở số gỗ này đến vị trí xe ô tô tải Hoa Mai mà N đã đậu trước đó rồi T1, MV tiếp tục chuyển số lóng gỗ từ thùng xe độ sang thùng xe ô tô tải Hoa Mai. Sau khi sang gỗ xong, N điều khiển xe độ đi cất giấu rồi quay lại điều khiển xe ô tô tải Hoa Mai chở số gỗ nói trên đi còn T1, MV đi về.
  • Lần thứ năm: Nhuệ, T1, MV tiếp tục lên rừng tại tiểu khu C khai thác gỗ. Tại đây, M sử dụng cưa Husqvarna của N cắt hạ 01 (Một) cây gỗ đứng; Nhuệ cưa cắt các cây đã cưa hạ trước đó còn lại thành 06 (sáu) lóng gỗ tròn, đường kính mỗi lóng dao động từ (30-50)cm, dài khoảng 04m. Sau khi cắt xong, T1, V, M đưa 07 (Bảy) lóng gỗ tròn lên thùng xe độ để N điều khiển xe chở số gỗ này về gần rẫy mì của T1, còn T1 điều khiển xe mô tô độ chế của T1 đi theo sau. Đến tối, T1, V, M chuyển số lóng gỗ từ thùng xe độ sang thùng xe ô tô tải Hoa Mai để N điều khiển xe ô tô tải chở số gỗ đi. Trong lần khai thác này, vào ngày 24/12/2023, N thuê A N3 dùng cuốc đi san lấp các hố trên đường đi lên khu vực tiểu khu C thuộc thôn K, xã Đ trong thời gian một ngày, mục đích để xe ô tô tải Hoa Mai của N đi đến khu vực tiểu khu C chở số gỗ sau khi khai thác trái phép được thuận tiện. Đến chiều, sau khi công việc san lấp hố, làm đường xong Nghiệp được Nhuệ thanh toán số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) gồm cả tiền công của lần làm đường vào tháng 10/2023. Trong thời gian phụ giúp việc khai thác lâm sản trái pháp luật, A T1, A N3, Nguyễn M, Nguyễn Văn V đã nhận từ Phạm Văn N số tiền lần lượt là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), 800.000 đồng (Tám trăm ngàn đồng), 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng), 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm ngàn đồng).

Đến khoảng ngày 03/01/2024, N, T1V tiếp tục đến khu vực bụi rậm nơi cất giấu số lóng gỗ tròn đã khai thác trái phép được ở lần thứ ba và lần thứ tư thực hiện việc móc cáp tời vào các đầu lóng gỗ đưa lên thùng xe độ sau đó chuyển từ xe độ sang xe ô tô tải Hoa Mai khoảng 08 (T9) lóng gỗ tròn để N điều khiển xe ô tô tải Hoa Mai vận chuyển số gỗ này đi. Tại vị trí bụi rậm nơi cất giấu số lóng gỗ trên vẫn còn lại 03 (Ba) lóng gỗ tròn chưa được vận chuyển.

Ngày 06/01/2024, N điều khiển xe ô tô tải Hoa Mai chở 04 (Bốn) lóng gỗ tròn khai thác trái phép tại tiểu khu C (lấy từ số lóng gỗ của lần khai thác thứ năm) đến xưởng mộc “Chí Công” của anh Nguyễn Chí C1 (sinh năm 1980; trú tại TDP C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum); N nói đây là gỗ được lấy từ trong vườn nhà và thuê anh C1 xẻ làm ván cốt pha; anh C1 đồng ý xẻ với giá 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) tiền công. Đến ngày 10/01/2024, N dẫn một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) đến xưởng của anh C1 xem ván rồi lấy đi 04 (Bốn) tấm.

Sáng ngày 12/01/2024, khi biết hành vi khai thác gỗ của mình đã bị phát hiện, N sử dụng điện thoại gắn thẻ sim số “0383.801.345” gọi đến số “0342.704.711” của T1 nói Tuyếng lên vị trí bụi rậm đốt 03 (ba) lóng gỗ chưa được vận chuyển thì T1 đồng ý và đi đốt 03 (Ba) lóng gỗ nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng. Trong các lần chuyển số lóng gỗ từ thùng xe độ sang xe ô tô tải Hoa Mai, Tuyếng phụ giúp cắt các đầu lóng gỗ thừa ra ngoài thùng xe ô tô tải Hoa Mai để thuận lợi đóng bửng thùng xe tải và che phủ tấm bạt trên thùng xe tải Hoa Mai tránh sự phát hiện của Cơ quan chức năng.

Ngày 13/01/2024, A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3 bị Cơ quan điều tra Công an huyện Đ triệu tập đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3 đã khai nhận toàn bộ hành vi khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép.

Ngày 21/01/2024, Phạm Văn N đến Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đầu thú và khai nhận về hành vi khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép.

- Tại Kết luận giám định số 03-2024/KL/GĐCN ngày 16/01/2024 của Giám định viên tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp của Chi cục Kiểm lâm tỉnh K kết luận: Tổng khối lượng gỗ tròn của 40 (Bốn mươi) cây gỗ bị khai thác trái pháp luật tại Tiểu khu C thuộc thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum trong vụ án là 26,653m³.

- Tại Kết luận giám định số 05-2024/KL/GĐCN ngày 02/02/2024 của Giám định viên tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp của Chi cục Kiểm lâm tỉnh K kết luận:

  1. Tổng khối lượng gỗ tròn của 07 (Bảy) cây gỗ bị khai thác trái pháp luật tại lô 2, 3, khoảnh 11; lô 25 khoảnh 7 Tiểu khu C thuộc thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum trong vụ án là 3,509m³.
  2. Chủng loại gỗ của 47 (Bốn mươi bảy) cây gỗ bị khai thác trái pháp luật trong vụ án:
  • Mẫu gỗ mang mã số 02, 03, 05, 06, 08, 09, 10, 11, 14, 16, 17, 18, 19, 20, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 1A, 4A, 6A, 8A, 10A, 11A, 12A, 02-KN, 03-KN (30 cây gỗ) được xác định là “Giẻ đỏ” tên khoa học L3 ducampii Hickel et A.camus. Họ G2 (F). Phân hạng gỗ: nhóm V (Theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ L4).
  • Mẫu gỗ mang mã số 01 được xác định là “Re” tên khoa học Cinamomum albiflorum N6. Họ Long não (L5). Phân hạng gỗ: nhóm VI (Theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ L4).
  • Mẫu gỗ mang mã số 04, 07, 04-KN (03 cây gỗ) được xác định là “Xoan mộc” tên khoa học Toona febrifuga R. Họ X (M). Phân hạng gỗ: nhóm VI (Theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ L4).
  • Mẫu gỗ mang mã số 12, 13, 21 (03 cây gỗ) được xác định là gỗ “Chò xót” tên khoa học Schima orenata Kl. Họ C3 (T). Phan hạng gỗ: Nhóm V (theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ L4).
  • Mẫu gỗ mang mã số 2A, 3A (02 cây gỗ) được xác định là “Lòng Mang” tên khoa học Pterospermum diversifolium B1. Họ T10 (S). Phân hạng gỗ: nhóm VI (Theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ L4).
  • Mẫu gỗ mang mã số 5A, 7A (02 cây gỗ) được xác định là “Vạng trứng” tên khoa học Endospermum sinensis B2. Họ Đại kích (E). Phân hạng gô: nhóm VII (theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ L4).
  • Mẫu gỗ mang mã số 9A được xác định là “Cáng lò” tên khoa học Betula alnoides H2. Họ Cáng lò (B). Phân hạng gỗ: nhóm VI (Theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ L4).
  • Mẫu gỗ mang mã số 15, 01-KN, 05-KN, 06-KN, 07-KN (05 cây gỗ) được xác định là “Nọng heo” tên khoa học Holoptelea integrifolia P. Họ D1 (U). Phân hạng gỗ: nhóm VI (Theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ L4).

- Tại Kết luận giám định số 08-2024/KL/GĐCN ngày 08/4/2024 của Giám định viên tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp của Chi cục Kiểm lâm tỉnh K về Chủng loại gỗ theo phân nhóm của 03 (Ba) mẫu gỗ lấy từ 182 hộp gỗ xẻ Nguyễn Chí C1 giao nộp ngày 15/01/2024 kết quả:

  • Mẫu gỗ mang mã số 01 được xác định là “Lòng Mang” tên khoa học Pterospermum diversifolium B1. Họ T10 (S). Phân hạng gỗ: nhóm VI (Theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ L4).
  • Mẫu gỗ mang mã số 02 được xác định là “Vạng trứng” tên khoa học Endospermum sinensis B2. Họ Đại kích (E). Phân hạng gỗ: Nhóm VII (theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ L4).
  • Mẫu gỗ mang mã số 03 được xác định là “Chò xót” tên khoa học Schima orenata Kl. Họ C3 (T). Phân hạng gỗ: Nhóm V (theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ L4).

Như vậy, tổng số lượng cây gỗ mà các bị cáo đã khai thác trái pháp luật trong khoảng thời gian từ tháng 10/2023 đến đầu tháng 01/2024 tại các vị trí lô 2, lô 3 khoảnh 11 rừng giao cho H1 gia đình ông A Sa L2 quản lý; lô 6, khoảnh 9 rừng giao cho H1 gia đình ông A K quản lý; lô 7, khoảnh 11 rừng giao cho H1 gia đình ông A N4 quản lý; lô 25, khoảnh 7 rừng giao cho Hộ gia đình ông A S quản lý; lô 22, khoảnh 7 rừng giao cho Hộ gia đình ông A H quản lý; lô 3, khoảnh 11 rừng giao cho H1 gia đình ông A D quản lý thuộc rừng sản xuất là rừng tự nhiên tại Tiểu khu C thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum là 47 (Bốn mươi bảy) cây với tổng khối lượng gỗ tròn bị khai thác theo Kết luận giám định số 03-2024/KL/GĐCN ngày 16/01/2024, số 05-2024/KL/GĐCN ngày 02/02/2024 của Giám định viên tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp của Chi cục Kiểm lâm tỉnh K30,162m³.

Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐG ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ, xác định tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 87.341.180 đồng (T9 mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi mốt ngàn một trăm tám mươi đồng).

Tại bản cáo trạng số: 34/CT-VKSĐH ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum truy tố các bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Văn V, A N3, A T1, Nguyễn M, về tội: “Vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà phát biểu lời luận tội đối với các bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Văn V, A N3, A T1, Nguyễn Mười . Đề nghị Hội đồng xét xử;

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Văn V, A N3, A T1, Nguyễn M về tội: “Vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản”.

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 232; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn N mức án từ 30 tháng đến 35 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/01/2024.

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 232; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V mức án từ 18 tháng đến 22 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/01/2024.

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 232; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo A N3 mức án từ 12 tháng đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/01/2024.

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 232; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự

Xử phạt: Bị cáo A T1 mức án từ 27 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/01/2024.

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 232; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn M mức án từ 24 tháng đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/01/2024.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là người làm nông, không có thu nhập ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo Khoản 4 Điều 232 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự buộc các bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Văn V, A N3, A T1, Nguyễn M phải liên đới bồi thường thiệt hại với tổng khối lượng gỗ tròn bị khai thác là 30,162m³ có giá trị tài sản là 87.341.180 đồng (T9 mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi mốt ngàn một trăm tám mươi đồng), được khấu trừ vào số tiền các bị cáo đã nộp bồi thường khắc phục hậu quả trước đó là 55.000.000 đồng (Năm mươi năm triệu đồng). Số tiền còn lại chưa khắc phục hậu quả là 32.341.180 đ (Ba mươi hai triệu, ba trăm bốn mươi mốt ngàn, một trăm tám mươi đồng) tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn N nhận chịu trách nhiệm khắc phục toàn bộ. Do đó đề nghị HĐXX cần ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo Phạm Văn N.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, đề nghị HĐXX buộc bị cáo A T1 nộp lại số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng); bị cáo Nguyễn M nộp lại số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng); bị cáo Nguyễn Văn V nộp lại số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm ngàn đồng); bị cáo A N3 nộp lại số tiền 800.000 đồng (Tám trăm ngàn đồng) là tiền thu lợi bất chính.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Đề nghị HĐXX tuyên:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước;

  • - 01 (Một) xe cành cạch dạng độ chế, kích thước thùng xe (2,5x3,6)m, đầu xe cách mặt thùng xe 1,9m, trên thân xe gắn bộ tời độ chế, gắn dây cáp và các ròng rọc chuyển động;
  • - 182 (Một trăm tám mươi hai) hộp gỗ xẻ (có nhiều kích thước khác nhau) thuộc chủng loại gỗ Chò sót, Lòng mang, Vạng trứng, nhóm V, VI, VII;
  • - 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng, màu xanh đen, gắn thẻ sim số “0342.704.711”, màn hình bị nứt vở đã qua sử dụng;
  • - 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, hiệu Vivo U10, nắp lưng màu đen, màn hình bị vỡ, gắn thẻ sim số “0337799755” đã qua sử dụng;
  • - 01 (Một) xe môtô dạng độ chế, không có vỏ bảo vệ, không biển kiểm soát, không rõ số khung, số máy. Xe có gắn bộ cáp tời và ròng rọc chuyển động; xe đã qua sử dụng;

Tịch thu tiêu huỷ : 01 (Một) xà beng bằng kim loại, dài 97cm, một đầu tù, một đầu dẹp, bị cong vênh.

Giao cho UBND huyện Đ quản lý và xử lý toàn bộ 8,347m³ gỗ tang vật của vụ án còn lại tại hiện trường theo biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 20/01/2024.

Giao cho UBND huyện Đ quản lý và xử lý số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi năm triệu đồng) để sung quỹ Nhà Nước.

Về án phí: Đề nghị HĐXX buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự và bị cáo Phạm Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Văn V, A N3, A T1Nguyễn M thành khẩn khai nhận tòa bộ hành vi phạm tội. Các bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Văn V, A N3, A T1Nguyễn M không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì. Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Y T7 vắng mặt nhưng đã có lời khai tại hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Văn V, A N3, A T1Nguyễn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo là phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội thể hiện:

Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2023 đến đầu tháng 01/2024, bị cáo Phạm Văn N thuê các bị cáo A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3 phụ bị cáo N khai thác gỗ trái phép tại khu vực rừng sản xuất là rừng tự nhiên tại tiểu khu C thuộc thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum được Nhà nước giao cho các hộ gia đình A D, A N4, A S, A Sa L2, A K, A H quản lý, bảo vệ tổng cộng là 47 (Bốn mươi bảy) cây gỗ đứng, với tổng khối lượng gỗ tròn bị khai thác là 30,162m³ với giá trị tài sản bị thiệt hại là 87.341.180 đồng (T9 mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi mốt ngàn một trăm tám mươi đồng).

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo có sự bàn bạc, thỏa thuận, chuẩn bị công cụ thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự câu kết chặt chẽ, trong đó;

Bị cáo Phạm Văn N là người cầm đầu, rủ rê và bỏ tiền thuê các bị cáo A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3 cùng thực hiện hành vi phạm tội và cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi khai thác lâm sản trái phép. Do đó, bị cáo Phạm Văn N có vai trò vừa là người khởi xướng, vừa là người thực hành trong vụ án với mục đích khai thác gỗ trái phép bán lấy tiền.

Bị cáo A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3 tiếp nhận ý chí và thực hiện hành vi khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép của bị cáo Phạm Văn N. Do đó, các bị cáo A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3 đều có vai trò vừa là người thực hành vừa là người giúp sức trong vụ án nhằm để được nhận tiền trả công.

Hành vi khai thác trái phép tổng cộng là 47 (Bốn mươi bảy) cây gỗ đứng, với tổng khối lượng gỗ tròn bị khai thác là 30,162m³ với giá trị tài sản bị thiệt hại là 87.341.180 đồng (T9 mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi mốt ngàn một trăm tám mươi đồng) của các bị cáo Phạm Văn N, A T1, Nguyễn Văn V, Nguyễn MA N3 đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” tội danh và hình phạt được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này, bị cáo Phạm Văn N là người khởi xướng, đặt vấn đề thuê các bị các khác đi phụ khai thác, bốc xếp, phụ đẩy gỗ sang xe, sửa đường, chuẩn bị công cụ, phương tiện, chi trả tiền công, là người thực hiện hành vi cưa hạ phần lớn các cây rừng rồi vận chuyển đi tiêu thụ. Bị cáo giữa vai trò là người khởi xướng và là người thực hành do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án.

Bị cáo A T1 khi được bị cáo N đặt vấn đề thuê đi phụ khai thác gỗ biết rõ hành vi này là vi phạm pháp luật không những không từ chối mà còn tham gia tích cực trong việc rủ rê bị cáo A N3 cùng tham gia thực hiện, phần lớn các lần đi khai thác, bốc xếp, phụ đẩy gỗ sang xe đều có bị cáo tham gia. Do đó, bị cáo A T1 giữ vai trò là người thực hành tích cực trong vụ án.

Đối với bị cáo Nguyễn M, Nguyễn Văn V khi được bị cáo N đặt vấn đề thuê đi phụ khai thác gỗ biết rõ hành vi này là vi phạm pháp luật nhưng vẫn đồng ý đi làm trong đó bị cáo M trực tiếp cưa hạ 03 (Ba) cây gỗ còn lại cùng bị cáo V phụ bốc xếp, phụ đẩy gỗ sang xe, tủ bạt để che giấu gỗ. Do đó, bị cáo M, V có vai trò là người thực hành.

Đối với bị cáo A N3 tiếp nhận ý chí từ bị cáo Phạm Văn N và bị cáo A T1, trực tiếp tham gia phụ cưa hạ, bốc xếp, phụ đẩy gỗ sang xe 06 cây gỗ và 02 (Hai) lần dùng cuốc san, lấp sửa đường để bị cáo N thuận lợi cho việc vận chuyển gỗ sau khi khai thác. Do đó, bị cáo A N3 giữ vai trò vừa là người thực hành vừa là người giúp sức.

Tại thời điểm thực hiện hành vi tội phạm, các bị cáo Phạm Văn N, A T1, Nguyễn Văn V, Nguyễn MA N3 có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội tại địa phương nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.

4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo Phạm Văn N, A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3 không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn N, A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3 đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo.

Quá trình điều tra, truy tố và chuẩn bị xét xử các bị cáo Phạm Văn N, A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3 đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả được số tiền 55.000.000đ (Năm mươi năm triệu đồng). Trong đó, gia đình bị cáo N nộp 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng), gia đình bị cáo A T1 nộp 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), gia đình bị cáo M nộp 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), gia đình bị cáo V nộp 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), gia đình bị cáo A N3 nộp 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo.

Ngoài ra, bị cáo Phạm Văn N sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến Cơ quan Công an đầu thú. Bị cáo Nguyễn Văn V có bố tham gia hoạt động cách mạng được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu “Lực lượng thanh niên xung phong” nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Phạm Văn N và bị cáo Nguyễn Văn V.

Qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Văn N, A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3. Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. HĐXX xét thấy: Các bị cáo mặc dù trước đó đã được tuyên truyền về bảo vệ rừng, nhận thức được việc khai thác gỗ là vi phạm pháp luật nhưng khi được bị cáo N thuê tham gia khai thác gỗ với tiền công từ 250.000 đồng đến 300.000 đồng/ngày, các bị cáo đã đồng ý tham gia khai thác gỗ trái phép. Sau thời gian bị tạm giam các bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội và tỏ rõ thái độ ăn năn. Tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, hành vi của các bị cáo đã tác động xấu đến tình hình an ninh xã hội tại địa phương. Gây xôn xao bất bình trong quần chúng nhân dân. Nhất là ảnh hưởng đến những người dân được nhà nước giao khoán rừng sản xuất, tạo kế sinh nhai cho gia đình và giúp phát triển kinh tế tại địa phương. Khi xem xét mức hình phạt đối với từng bị cáo Hội đồng xét xử cần đánh giá vai trò, của từng bị cáo, cụ thể: Bị cáo Phạm Văn N là người có vai trò khởi xướng, rủ rê các bị cáo A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn V, A N3 phạm tội. Đồng thời, cũng là người thực hiện hành vi khai thác gỗ trái phép. Do đó, phải xử mức hình phạt nặng hơn các bị cáo khác.

Các bị cáo A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3 tiếp nhận ý chí và thực hiện hành vi khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép cho bị cáo Phạm Văn N và được bị cáo N trả tiền công lao động từ 250.000 đồng đến 350.000 đồng/mỗi lần đi làm. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo A T1 đã nhận số tiền 2.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn M đã nhận số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn V đã nhận số tiền 1.400.000 đồng và bị cáo A N3 đã nhận số tiền 800.000 đồng tiền công từ bị cáo N. Đây là tiền thu lợi bất chính nên cần buộc các bị cáo phải nộp lại để sung quỹ Nhà nước.

Hành vi của các bị cáo không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của Nhà N5. Hành vi đó đã gây xôn xao bất bình trong dư luận quần chúng, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự chính trị tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra. Cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành những người sống có ý thức chấp hành pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo Phạm Văn N, A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3 là nông dân phần nhiều là lao động làm thuê và không có nguồn thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo Phạm Văn N, A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Theo quy định của pháp luật thì thiệt hại về rừng do hành vi vi phạm gây ra bao gồm giá trị thiệt hại về lâm sản và giá trị thiệt hại về môi trường của rừng bị thiệt hại. Đối với thiệt hại về lâm sản: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584; 585; 589 Bộ luật Dân sự buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường thiệt hại cho giá trị lâm sản bị thiệt hại trong vụ án là 87.341.180 đồng (T9 mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi mốt ngàn một trăm tám mươi đồng). Quá trình điều tra, truy tố và giai đoạn chuẩn bị xét xử các bị cáo Phạm Văn N, A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3 đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả được số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi năm triệu đồng). Trong đó, gia đình bị cáo N nộp 18.000.000₫ (Mười tám triệu đồng), gia đình bị cáo A T1 nộp 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), gia đình bị cáo M nộp 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), gia đình bị cáo V nộp 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), gia đình bị cáo A N3 nộp 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền còn lại chưa khắc phục hậu quả là 32.341.180 đồng (Ba mươi hai triệu ba trăm bốn mươi mốt ngàn một trăm tám mươi đồng). Tại phiên toà, bị cáo Phạm Văn N nhận khắc phục toàn bộ số tiền này. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là sự tự nguyện của bị cáo, không ai ép buộc và không trái quy định. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Phạm Văn N. Bị cáo Phạm Văn N phải có trách nhiệm nộp lại số tiền 32.341.180 đồng (Ba mươi hai triệu ba trăm bốn mươi mốt ngàn một trăm tám mươi đồng) cho Ủy ban nhân dân huyện Đ để nộp sung vào công quỹ Nhà nước.

Đối với thiệt hại về môi trường rừng: Hội đồng định giá tài sản không xác định được giá trị thiệt hại, hiện tại chưa có văn bản hướng dẫn về xác định thiệt hại về môi trường rừng và đại diện Ủy ban nhân dân huyện Đ không yêu cầu các bị cáo bồi thường về thiệt hại môi trường rừng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên toà hôm nay, gia đình các bị cáo không ai yêu cầu các bị cáo phải bồi thường lại số tiền gia đình các bị cáo đã bỏ ra để khắc phục hậu quả cho các bị cáo nên HĐXX không xem xét là phù hợp.

[7] Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ;

  • 01 (Một) xe cành cạch dạng độ chế, kích thước thùng xe (2,5x3,6)m, đầu xe cách mặt thùng xe 1,9m, trên thân xe gắn bộ tời độ chế, gắn dây cáp và các ròng rọc chuyển động; là tài sản của bị cáo Phạm Văn N, sử dụng vào việc khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Xét đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
  • 01 (Một) xà beng bằng kim loại, dài 97cm, một đầu tù, một đầu dẹp, bị cong vênh; là tài sản của bị cáo Phạm Văn N, sử dụng vào việc khai thác lâm sản trái phép. Xét đây là công cụ dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.
  • 182 (Một trăm tám mươi hai) hộp gỗ xẻ (có nhiều kích thước khác nhau) thuộc chủng loại gỗ Chò sót, nhóm V, Lòng mang, nhóm VI, Vạng trứng, nhóm VII do Nguyễn Chí C1 giao nộp. Các hộp gỗ được xẻ từ 04 (Bốn) lóng gỗ bị cáo Phạm Văn N cùng đồng phạm khai thác trái phép tại tiểu khu C thuộc thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Xét đây là tài sản của Nhà nước do các bị cáo khai thác trái phép nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
  • 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng, màu xanh đen, gắn thẻ sim số “0342.704.711”, màn hình bị nứt vở đã qua sử dụng; là tài sản của bị cáo A T1 được bị cáo A T1 sử dụng liên lạc với bị cáo Phạm Văn N trong quá trình khai thác lâm sản trái phép. Xét đây là công cụ dùng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
  • 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, hiệu Vivo U10, nắp lưng màu đen, màn hình bị vỡ, gắn thẻ sim số “0337799755” đã qua sử dụng; là tài sản của bị cáo Nguyễn M được bị cáo Nguyễn M sử dụng liên lạc với bị cáo Phạm Văn N trong quá trình khai thác lâm sản trái phép. Xét đây là công cụ dùng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
  • 01 (Một) xe môtô dạng độ chế, không có vỏ bảo vệ, không biển kiểm soát, không rõ số khung, số máy. Xe có gắn bộ cáp tời và ròng rọc chuyển động; xe đã qua sử dụng; là tài sản của bị cáo A T1, được sử dụng vào việc khai thác lâm sản trái phép. Xét đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
  • Đối với 01 (một) xe ô tô tải hiệu Hoa Mai, biển kiểm soát 82C-015.68, màu xanh, trên xe có 01 (một) tấm bạt che phủ màu trắng xanh, dài khoảng 4m rộng khoảng 2,5m, bị cáo Phạm Văn N khai: Cuối tháng 12/2023, bị cáo N bán chiếc xe ô tô này cho người đàn ông tên T11 (trú tại Thành phố Đà Nẵng; không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) với giá 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) nhưng do chưa đủ tiền nên đến ngày 07/01/2024 sau khi bị cáo N chở 04 (bốn) lóng gỗ tròn đã khai thác trái phép đến xưởng gỗ “Chí Công” thuộc TDP 3, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum thuê xẻ ván cốt pha xong thì ông T11 giao đủ số tiền còn lại nên bị cáo N đã giao xe ô tô trên cùng tấm bạt gắn trên xe cho người đàn ông tên T11. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ nhân thân, lai lịch người đàn ông tên T11 để truy thu vật chứng và làm rõ nội dung có liên quan đến vụ án. Xét tài sản là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên sẽ được xử lý sau khi đã thu giữ được phương tiện.
  • Đối với 01 (một) máy cưa lốc, vỏ bọc làm bằng nhựa, màu đỏ, hiệu Husqvarna của bị cáo Phạm Văn N; 01 (một) máy cưa lốc loại 381 của bị cáo A T1 được các bị cáo sử dụng làm công cụ khai thác lâm sản trái phép. Các bị cáo Phạm Văn N, A T1 khai sau khi khai thác xong giấu tại chòi rẫy của gia đình. Cơ quan điều tra tổ chức lực lượng truy tìm nhưng không tìm thấy các vật chứng trên. Xét tài sản là công cụ dùng vào việc phạm tội nên sẽ được xử lý sau khi đã thu giữ được công cụ.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng có gắn thẻ sim số “0383.801.345” bị cáo Phạm Văn N sử dụng liên lạc với các bị cáo khác trong quá trình khai thác trái phép lâm sản. Bị cáo N khai sau khi trốn tại khu vực bờ sông thuộc xã L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum đã đánh rơi mất điện thoại. Cơ quan điều tra tổ chức lực lượng truy tìm nhưng không tìm thấy. Xét tài sản là công cụ dùng vào việc phạm tội nên sẽ được xử lý sau khi đã thu giữ được công cụ.
  • Đối với 01 (một) máy cưa lốc loại 381 của bị cáo Phạm Văn N được bị cáo Nguyễn M sử dụng trong quá trình khai thác lâm sản trái phép. Bị cáo M khai sau khi cưa bị hư được bị cáo M mang đi sửa nhưng do tình trạng máy hư hỏng nặng nên đã bán cưa cho một người phụ nữ thu mua phế liệu, đi xe mô tô kiểu dáng Honda Cup, loại 50 tại khu vực ngã ba xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được rõ nhân thân, lai lịch của người phụ nữ nên không truy tìm được máy cưa lốc trên. Xét tài sản là công cụ dùng vào việc phạm tội nên sẽ được xử lý sau khi đã thu giữ được công cụ.
  • Đối với số lượng gỗ còn lại tại hiện trường là 8,347m³ Cơ quan Cảnh sát điều tra đã bàn giao toàn bộ tang vật cho Ủy ban nhân dân xã Đ chịu trách nhiệm chỉ đạo lực lượng xã và cộng đồng dân cư thôn K trông coi, bảo quản. HĐXX xét thấy cần thiết phải giao cho Ủy ban nhân dân huyện Đ để quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.

[8] Các vấn đề khác:

[8.1] Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ xác định: Ngày 06/01/2024, khi bị cáo Phạm Văn N chở 04 (Bốn) lóng gỗ bị khai thác trái phép đến xưởng mộc “Chí Công” tại TDP C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum thuê Công xẻ ván cốt pha. Mặc dù, bị cáo N không cung cấp hồ sơ, giấy tờ hợp pháp liên quan đến các lóng gỗ nhưng Nguyễn Chí C1 vẫn đồng ý xẻ thuê với tiền công 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng). Đây là hành vi chế biến lâm sản trái pháp luật. Khối lượng gỗ Nguyễn Chí C1 đã xẻ của 04 (Bốn) lóng gỗ là 1,195m³ (182 hộp gỗ xẻ) tương đương 1,912m³ gỗ tròn gỗ thuộc loại thông thường (Chò xót, Lòng mang, Vạng trứng thuộc nhóm V, VI, VII). Hành vi này của Nguyễn Chí C1 đã vi phạm Điểm c, Khoản 1, Điều 23 Nghị định số 35/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 07/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ). Do đó, việc Công an huyện Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Chí C1 về hành vi “Chế biến lâm sản trái pháp luật” bằng hình thức phạt tiền, với mức phạt 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) là có căn cứ. Ngày 07/6/2024, Nguyễn Chí C1 đã chấp hành việc nộp phạt.

[8.2] Đối với các hộ gia đình A D, A N4, A H, A K, A Sa L2, A S được Nhà nước giao rừng để quản lý, bảo vệ (Chủ rừng) nhưng không tổ chức thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ quản lý, bảo vệ rừng theo Quy chế quản lý rừng để xảy ra khai thác rừng trái pháp luật. Trong đó, tại vị trí lô 3, khoảnh 11, tiểu khu C thuộc thôn K, xã Đ do hộ gia đình A D quản lý bị thiệt hại 01 cây gỗ (Xoan Mộc), khối lượng 0,290m³; tại vị trí lô 7, khoảnh A, tiểu khu C thuộc thôn K, xã Đ do hộ gia đình ông A N4 quản lý bị thiệt hại 03 cây gỗ (G), tổng khối lượng 1,576m³; tại vị trí lô 22, khoảnh G, tiểu khu C thuộc thôn K, xã Đ do hộ gia đình A H quản lý bị thiệt hại 12 cây gỗ (07 cây Giẻ Đỏ, 02 cây Lòng Mang, 02 cây Vạng Trứng, 01 cây C), tổng khối lượng 8,651m³; tại vị trí lô 6, khoảnh I, tiểu khu C thuộc thôn K, xã Đ do hộ gia đình A K quản lý bị thiệt hại 05 cây gỗ (03 cây Giẻ Đỏ, 02 cây Xoan Mộc), tổng khối lượng 3,117m³; tại vị trí lô 2, khoảnh A, tiểu khu C thuộc thôn K, xã Đ do hộ gia đình A Sa L2 quản lý bị thiệt hại 14 cây gỗ (01 cây Re, 09 cây Giẻ Đỏ, 03 cây Nọng H, 01 cây C), tổng khối lượng 8,241m³; tại vị trí lô 25, khoảnh G, tiểu khu C thuộc thôn K, xã Đ do hộ gia đình A S quản lý bị thiệt hại 12 cây gỗ (08 cây Giẻ Đỏ, 02 cây Chò Xót, 02 cây Nọng H), tổng khối lượng 8,287m³. Do đó, việc Công an huyện Đ căn cứ Nghị định số 35/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 07/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ) áp dụng Khoản 7, Điều 13; Điểm a, Khoản 1, Điều 13 của Nghị định ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hộ gia đình A D, A N4 về hành vi của chủ rừng không thực hiện đầy đủ các hoạt động quản lý, bảo vệ để xảy ra việc khai thác lâm sản trái pháp luật bằng hình thức phạt tiền, với mức phạt lần lượt là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), 17.500.000 đồng (Mười bảy triệu năm trăm ngàn đồng). Đồng thời Công an huyện Đ căn cứ Điều 27 Nghị định số 35/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 18 Điều 1 Nghị định số 07/2022/NĐ-CP kiến nghị Chủ tịch UBND huyện Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hộ gia đình A H, A K, A Sa L2, A S về hành vi của chủ rừng không thực hiện đầy đủ các hoạt động quản lý, bảo vệ để xảy ra việc khai thác lâm sản trái pháp luật (mức phạt trên 25.000.000 đồng).

[9] Về án phí: Các bị cáo Phạm Văn N, A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Riêng bị cáo Phạm Văn N còn phải chịu số tiền 1.617.059 đồng (Một triệu sáu trăm mười bảy ngàn không trăn năm mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn N, A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3 phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản”.

  • - Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 232; Điều 17; Điều 38; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/01/2024.

  • - Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 232; Điều 17; Điều 38; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo A T1 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/01/2024.

  • - Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 232; Điều 17; Điều 38; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn M 25 (Hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/01/2024.

  • - Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 232; Điều 17; Điều 38; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/01/2024.

  • - Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 232; Điều 17; Điều 38; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo A N3 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/01/2024.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Văn V, A N3, A T1, Nguyễn Mười .

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584; 585; 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự. Giá trị lâm sản bị thiệt hại trong vụ án là 87.341.180 đồng (T9 mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi mốt ngàn một trăm tám mươi đồng). Các bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Văn V, A N3, A T1, Nguyễn M đã bồi thường khắc phục hậu quả được số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi năm triệu đồng) giao lại cho Ủy ban nhân dân huyện Đ để sung vào công quỹ Nhà Nước.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Phạm Văn N, buộc bị cáo Phạm Văn N phải bồi thường khắc phục thiệt hại số tiền còn lại là 32.341.180 đồng (Ba mươi hai triệu ba trăm bốn mươi mốt ngàn một trăm tám mươi đồng) cho Ủy ban nhân dân huyện Đ để sung vào công quỹ Nhà Nước.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo không tự nguyện thi hành đối với khoản tiền phải thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ Nhà Nước;

  • - 01 (Một) xe cành cạch dạng độ chế, kích thước thùng xe (2,5x3,6)m, đầu xe cách mặt thùng xe 1,9m, trên thân xe gắn bộ tời độ chế, gắn dây cáp và các ròng rọc chuyển động.
  • - 182 (Một trăm tám mươi hai) hộp gỗ xẻ (có nhiều kích thước khác nhau) thuộc chủng loại gỗ Chò sót, Lòng mang, Vạng trứng, nhóm V, VI, VII;
  • - 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng, màu xanh đen, gắn thẻ sim số “0342.704.711”, màn hình bị nứt vở đã qua sử dụng.
  • - 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, hiệu Vivo U10, nắp lưng màu đen, màn hình bị vỡ, gắn thẻ sim số “0337799755” đã qua sử dụng.
  • - 01 (Một) xe môtô dạng độ chế, không có vỏ bảo vệ, không biển kiểm soát, không rõ số khung, số máy. Xe có gắn bộ cáp tời và ròng rọc chuyển động; xe đã qua sử dụng;

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) xà beng bằng kim loại, dài 97cm, một đầu tù, một đầu dẹp, bị cong vênh.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Hà).

Giao cho Ủy ban nhân dân huyện Đ để sung quỹ Nhà Nước số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi năm triệu đồng) mà gia đình các bị cáo đã nộp nhằm khắc phục hậu quả cho các bị cáo (Hiện số tiền đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đăk Hà).

Giao cho Ủy ban nhân dân huyện Đ khối lượng là 8,347m³ gỗ còn tại hiện trường để quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2024 giữa Ủy ban nhân dân xã Đ và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ).

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo A T1 phải nộp lại số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), bị cáo Nguyễn M phải nộp lại số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng), bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp lại số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm ngàn đồng) và bị cáo A N3 phải nộp lại số tiền 800.000 đồng (T9 trăm ngàn đồng) tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Văn N, A T1, Nguyễn M, Nguyễn Văn VA N3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Buộc bị cáo Phạm Văn N phải chịu số tiền 1.617.059 đồng (Một triệu sáu trăm mười bảy ngàn không trăn năm mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331; 332; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 30/8/2024) các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh KonTum để yêu cầu giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niệm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Vụ 1- TANDTC;
  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND huyện Đăk Hà;
  • - Công an huyện Đăk Hà;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Đăk Hà; Phạm Thị Nga
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM về vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản (hình sự)

  • Số bản án: 44/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Phạm Văn Nhuệ, Nguyễn Văn Vụy, A Nghiệp, A Tuyếng, Nguyễn Mười về tội: “Vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger