TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2023/HS-ST Ngày: 29-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Sức, bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Minh T sinh ngày 15/8/2004, tại huyện P, tỉnh An Giang; nơi sinh: huyện P, tỉnh An Giang; giới tính: Nam nơi cư trú: khóm P, thị trấn M, huyện P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch : Việt Nam; dân tộc : Kinh; tôn giáo Đạo Phật giáo H1; Trình độ học vấn : lớp 5/12; Cha Nguyễn Văn T1 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1982; Chị, em ruột : Có 02 người, bị cáo là người thứ nhất;
- Nguyễn Văn Tuấn A sinh ngày 14/7/1999, giới tính : Nam, nơi cư trú: khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật giáo H1; Trình độ học vấn: 6/12; Cha: Nguyễn Văn H sinh năm 1965; mẹ: Nguyễn Thị P sinh năm 1968; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là người thứ tư.
Nhân thân: Ngày 04/5/2023, Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang có quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý, thời hạn 01 năm kể từ ngày 04/5/2023 đối với Nguyễn Minh T.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 26/7/2023 đến nay, tại Nhà tạm giữ - Công an huyện P.
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 29/01/2021, bị Toà án nhân dân huyện Phú Tân quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 01/8/2022.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/7/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện P (có mặt).
- Bị hại: Ông Huỳnh Tấn B, sinh năm 1976; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1968, nơi cư trú: khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang; ông Nguyễn Thanh B1, sinh năm 1984 (vắng mặt). Chỗ ở hiện nay: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
- Người làm chứng:
Chị Huỳnh Thị Huyền N, sinh năm 1980 (vắng mặt);
Chị Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1989 (vắng mặt);
Cùng cư trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 24/7/2023, Nguyễn Minh T nảy sinh ý định tìm tài sản lấy trộm bán tiêu xài và sử dụng ma tuý nên T điện thoại cho Nguyễn Văn Tuấn A rủ Tuấn A cùng đi trộm tài sản, Tuấn A đồng ý. Khoảng 10 phút sau, Tuấn A điều khiển xe đạp điện màu đỏ của mẹ Tuấn A là bà Nguyễn Thị P đến nhà chở T đi tìm tài sản lấy trộm.
Khi đến khu vực ngã ba thuộc ấp T, xã T, huyện P, T thấy xe mô tô biển số 61H8-9131 của Huỳnh Tấn B đang dựng trước cửa nhà của Huỳnh Thanh T2 (em vợ B). T kêu Tuấn A đứng cảnh giới còn T lấy trộm xe, T câu đờ rét rồi đề máy cho xe chạy. Cả hai điều khiển xe về nhà của T ở khóm P, thị trấn P để xe đạp điện của Tuấn A ở nhà T rồi T điều khiển xe mô tô vừa trộm được chở Tuấn A đến khu vực lò sấy lúa của Nguyễn Thanh B1 (sinh năm 1984, ngụ ấp P, xã P) bán xe mô tô cho B1 được 800.000 đồng. Số tiền này cả hai chia nhau tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng hết.
Sau khi phát hiện bị mất xe Bửu trình báo Công an xã T xử lý. Đến ngày 26/7/2023, Tuấn A đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện P đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản. Trên cơ sở lời khai của Tuấn A, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với T.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 37/KL-TTHS ngày 31/7/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận: 01 xe mô tô hiệu DAYANG, màu nâu, biển số 61H8-9131, đã qua sử dụng, trị giá 4.200.000 đồng.
Ngày 04/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện P khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tạm giam đối với Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn Tuấn A để điều tra, xử lý.
Quá trình điều tra, Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Cáo trạng số 42/CT-VKSTC- HS ngày 04 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đã truy tố các bị cáo T, Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị hại Huỳnh Tấn B, trình bày như nội dung vụ án, đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu bồi thường.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được công bố như sau:
- - Nguyễn Thị P, trình bày: P là mẹ ruột của Tuấn A, xe đạp điện mà Tuấn A và T điều khiển đi lấy trộm tài sản là của bà. Buổi tối Tuấn A thường lấy xe đi uống cà phê, việc Tuấn A đi lấy trộm tài sản bà không biết, hiện đã nhận lại xe.
- - Nguyễn Thanh B1, trình bày: B1 với Tuấn A, T là bạn bè quen nhau khoảng một tháng trước khi xảy ra vụ việc. Khoảng 21 giờ ngày 24/7/2023, B1 đang ở nhà thì Tuấn A điện cho B1 nói muốn bán xe cũ do đang kẹt tiền, xe không có giấy chứng nhận đăng ký xe. Do cần mua giùm người quen để đi làm ruộng nên đồng ý mua. T điều khiển xe chở Tuấn A đến bán cho B1 800.000 đồng. Đến ngày 25/7/2023, Cơ quan điều tra mời làm việc, B1 tự nguyện giao nộp lại xe. Việc Tuấn A và T lấy trộm xe B1 không biết. B1 yêu cầu Tuấn A và T trả lại số tiền 800.000 đồng.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có ý kiến giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản đối với các bị cáo T, Tuấn A theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đồi, bổ sung năm 2017.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2023.
Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A mức án 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2023.
- Hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt tiền đối bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự tuyên buộc bị cáo Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn Tuấn A có nghĩa vụ bồi thường cho Nguyễn Thanh B1 số tiền 800.000 đồng.
-Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO.
Vật chứng hiện do Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/10/2023.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Do cần tiền tiêu xài nên khoảng 20 giờ ngày 24/7/2023, Nguyễn Minh T nảy sinh ý định tìm tài sản lấy trộm nên điện thoại rủ Tuấn A. Tuấn A đồng ý và điều khiển xe đạp điện màu đỏ của mẹ Tuấn A là bà Nguyễn Thị P đến nhà chở T đến khu vực ấp T, xã T lấy trộm xe mô tô biển số 61H8-9131 của Huỳnh Tấn B, theo kết luận định giá số 37/KL –TTHS ngày 31/7/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện P kết luận 01 xe mô tô hiệu DAYANG, màu nâu, biển số 61H8 – 9131 đã qua sử dụng, trị giá 4.200.000đồng đủ định lượng quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, các bị cáo có đủ năng lực hành vi dân sự cũng như năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định trong Bộ Luật hình sự.
[3] Xét về nguyên nhân phạm tội và tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội nhận thấy rằng tài sản của công dân là do công sức của họ tạo ra hoặc do nguồn thu nhập hợp pháp khác mà họ có được và mọi người tôn trọng, pháp luật bảo vệ, những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tài sản riêng công dân thì sẽ bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Bị cáo T, Tuấn A đứng trước Tòa hôm nay là người đã trưởng thành có đầy đủ sức khoẻ để tìm một công việc lao động bằng chính sức lao động của mình tạo ra thu nhập. Nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài và sử dụng ma tuý mà các bị bất chấp pháp luật thực hiện hành vi lấy trộm của người khác, đây cũng là nguyên nhân và là động cơ phạm tội của các bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, đồng thời còn làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương và làm cho người dân hoang mang lo sợ trong việc bảo vệ tài sản. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo, để răn đe, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung loại tội phạm này ở địa phương.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Đối với Nguyễn Minh T, bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 04/5/2023, Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý, thời hạn 01 năm kể từ ngày 04/5/2023 đối với Nguyễn Minh T.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A có 01 tiền sự, cụ thể: Ngày 29/01/2021, bị Toà án nhân dân huyện Phú Tân quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 01/8/2022. Ngày 02/8/2022, Ủy ban nhân dân thị trấn P có quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú đối với Nguyễn Văn Tuấn A, thời hạn từ ngày 02/8/2022 đến ngày 01/8/2024.
Về tình tiết giảm nhẹ
Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, bị cáo Tuấn A sau khi thực hiện hành vi phạm tội tự nguyện ra đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo T nảy sinh ý định trộm rồi rủ bị cáo Tuấn A cùng đi lấy trộm, tuy không có sự bàn bạc, phân công từ trước, nhưng bị cáo T là người trực tiếp lấy trộm, bị cáo Tuấn A giữ vai trò giúp sức, nên bị cáo T giữ vai trò chính, hội đồng xét xử có xem xét khi lượng hình.
Hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thuộc thành phần lao động nên HĐXX không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo, cũng đủ mức giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường nên không đề cập xem xét. Đối với yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ, buộc bị cáo Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn Tuấn A có nghĩa vụ liên đới bồi thường số tiền 800.000 đồng cho ông B1. Đối với bà P là chủ sở hữu, hiện đã nhận lại chiếc xe, không có yêu cầu gì khác.
[6] Về xử lý vật chứng: tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO vì đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
[7] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn Tuấn A phạm tội “ Trộm cắp tài sản"
Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 01(một) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2023.
Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A 01(một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2023.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự
Buộc bị cáo Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn Tuấn A có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn Thanh B1 số tiền 800.000 đồng.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật Tố Tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu vàng đã qua sử dụng (mặt trước điện thoại bị nứt màn hình, mặt sau điện thoại bị móp).
Vật chứng hiện do Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/10/2023.
Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo T, bị cáo Tuấn A mỗi người phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo T, Tuấn A nộp 300.000₫
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng những đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Lâm Bảo Ngọc |
Bản án số 44/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 44/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo An, Tú thực hiện hành vi trộm cắp tài sản
