Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29/7/2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Chu Hạ Uyên.

Bà Đặng Thị Nga

Thư ký phiên tòa: anh Nguyễn Phi Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 233/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1980. Địa chỉ: hẻm B, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai

- Bị đơn: chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1984. Địa chỉ: khu phố N, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

(nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, nguyên đơn nah Nguyễn Xuân T trình bày:

Nguyên đơn và chị Nguyễn Thị Mỹ L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 07/3/2019 tại Ủy ban nhân dân phường X, thị xã L (nay thành phố L), tỉnh Đồng Nai. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc. Sau đó vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, thường hay cãi vã, sau khi sinh con chị L không quan tâm lo lắng cho gia đình, thường hay ăn chơi và đem con về nhà mẹ ruột, anh T phải cấp dưỡng nuôi con.Vợ chồng không còn sống chung với nhau từ năm 2021 đến nay. Vào tháng 6 năm 2023, chị L bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh Đồng Nai bắt do liên quan đến ma túy. Từ thời điểm đó đến nay bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Nay nguyên đơn nhận thấy không còn tình cảm với chị L nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thành T1, sinh ngày 28/02/2019. Khi ly hôn, nguyên đơn yêu cầu được nuôi cháu T1, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: vợ chồng không có nợ chung.

Theo bản tự khai, bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:

Bị đơn và anh Nguyễn Xuân T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại Ủy ban nhân dân phường X, thị xã L (nay thành phố L), tỉnh Đồng Nai, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Chị L thừa nhận, nguyên nhân mâu thuẫn đúng như lời khai của nguyên đơn. Nay nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm nên chị L đồng ý ly hôn.

Về con: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thành T1, sinh ngày 28/02/2019. Khi ly hôn, chị đồng ý giao cháu T1 cho anh T nuôi, chị không cấp dưỡng nuôi con do không đủ điều kiện.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: vợ chồng không có nợ chung.

* Toàn bộ tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn, bị đơn cung cấp và Tòa án thu thập đã được công khai theo đúng quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, nguyên đơn; bị đơn đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì vợ chồng đã không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống. Về con chung: giao con chung cho nguyên đơn nuôi vì hiện nay bị đơn đang bị tạm giữ hình sự, không có điều kiện nuôi con. Do nguyên đơn không yêu cầu nên bị đơn không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn khai không có nên không giải quyết.

Về án phí: nguyên đơn chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn anh Nguyễn Xuân T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L. Do chị L có địa chỉ cư trú tại khu phố N, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “tranh chấp ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của anh T nhận thấy:

Quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn được công nhận là hôn nhân hợp pháp, nên được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống. Từ năm 2021 đến nay, vợ chồng không còn sống chung với nhau. Tháng 6 năm 2023, bị đơn có hành vi liên quan đến ma túy nên bị bắt tạm giam. Hiện nay, cả anh T và chị L đều xác định không còn tình cảm với nhau. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh T ly hôn với chị L.

[3.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Anh T và chị L thừa nhận, vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thành T1, sinh ngày 28/02/2019. Khi ly hôn, cả 02 đương sự thống nhất giao cháu T1 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, giao cháu Nguyễn Thành T1, sinh ngày 28/02/2019 cho anh Nguyễn Xuân T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Tạm thời anh T không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[4] Về án phí: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[5] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; các điều 227, 228, 266, 271; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Anh Nguyễn Xuân T.

- Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Xuân T được ly hôn chị Nguyễn Thị Mỹ L

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thành T1, sinh ngày 28/02/2019 cho anh Nguyễn Xuân T trực tiếp nuôi dưỡng.

Tạm thời anh T không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, chị L được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Khi cần thiết, anh T, chị L được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Xuân T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 0005201 ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Anh T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung).

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Long Khánh;
  • - Chi cục THADS TP. Long Khánh;
  • - Uỷ ban nhân dân phường Xuân Hòa, thành phố Long Khánh;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Vân Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger