Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH THÀNH

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 29 tháng 7 năm 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Hồng Xuân, bà Nguyễn Thị Hà.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2024/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2024/QÐST- HNGĐ ngày 19/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T - Sinh năm: 1991

Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Bùi Văn T1 - Sinh năm: 1990

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên toà, vắng mặt chị T và anh T1 (Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 26/02/2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị T và anh Bùi Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được gia đình hai bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 12/11/2010 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi chung sống hoà thuận được khoảng 09 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng có nhiều vấn đề không cùng quan điểm nên thường xuyên cãi vã. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Đến nay, chị T xác định tình cảm vợ, chồng không còn nên chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Văn T2, (Giới tính: Nam) sinh ngày: 01/12/2010. Ly hôn, chị T có nguyện vọng được giao cháu T2 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T1 mỗi tháng số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập anh Bùi Văn T1 để nộp bản tự khai và thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T1 đều vắng mặt không có lí do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83; 107, 110, 116 và 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Bùi Văn T1. Giao cháu Bùi Văn T2, (Giới tính: Nam) sinh ngày: 01/12/2010 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh T1 mỗi tháng số tiền 1.725.000 đ (Một triệu, bảy trăn hai mươi lăm nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7/2024 đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi.

- Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn đối với anh Bùi Văn T1. Anh T1 có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nên xác định đây là vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng anh T1 vắng mặt không có lí do, tòa án đã tiến hành mở phiên họp vắng mặt anh T1 và thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh T1 theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS. Anh T1 đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải nhiều lần nhưng anh T1 đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.

Tại phiên tòa, chị Thanh vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh T1 lần thứ hai đến để tham gia phiên tòa nhưng anh T1 vắng mặt không có lý do nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt chị T và anh T1.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được gia đình hai bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 12/11/2010 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng có nhiều vấn đề không cùng quan điểm nên thường xuyên cãi vã. Trong quá trình giải quyết vụ án tại các buổi hòa giải anh T1 không đến Tòa án để tham gia hòa giải mà không có lý do. Từ khi chị T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn đối với anh T1, anh T1 cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh T1 không còn, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T1 là có cơ sở, nên yêu cầu của chị T được chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Văn T1 có 01 con chung là cháu Bùi Văn T2, (Giới tính: Nam) sinh ngày: 01/12/2010. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng giao cháu T2 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy: Việc nuôi dưỡng con chung là trách nhiệm của cả vợ và chồng. Tuy nhiên, từ khi chị T và anh T1 sống ly thân đến nay, cháu T2 sinh sống cùng bố, được anh T1 chăm sóc chu đáo, đồng thời cháu T2 cũng có nguyện vọng ở với bố. Để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt cũng như ổn định về cuộc sống của cháu T2, cần giao cháu T2 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

[4] Chị Nguyễn Thị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T1 mỗi tháng số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) từ khi ly hôn cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử thấy: Việc nuôi dưỡng con chung là trách nhiệm của cả anh T2 và chị T. Tuy nhiên mức cấp dưỡng cho con mỗi tháng số tiền 1.000.000 đ (Mộ triệu) đồng mà chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu T2 cùng anh T1 là thấp. Căn cứ vào Nghị định 74/2024/NĐ- CP ngày 01/7/2024 quy định về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì tại huyện thạch T3 là 3.450.000 đồng; Căn cứ vào Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Cần buộc chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T1 mỗi tháng số tiền 1.725.000 đ (Một triệu, bảy trăn hai mươi lăm nghìn đồng) là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116 và 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị định 74/2024/NĐ- CP ngày 01/7/2024 của Chính phủ; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Bùi Văn T1.
  2. Về con chung: Giao Bùi Văn T2, (Giới tính: Nam) sinh ngày: 01/12/2010 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc chị T cấp dưỡng nuôi cháu Bùi Văn T2 cùng anh T1 mỗi tháng số tiền 1.725.000 đ (Một triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 7/2024 cho đến khi cháu Bùi Văn T2 đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên đương sự có yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng khác.

    Chị T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.

    Trường hợp có căn cứ để thay đổi người trược tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì thực hiện theo quy định tại điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ. Chị Nguyễn Thị T được trừ số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, theo biên lai số 0002257 ngày 13/3/2024, chị T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chị T còn phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Văn T1. Chị T và anh T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Thạch Thành;
  • - UBND xã Thành Vinh;
  • - Chi cục THADS h. Thạch Thành;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HNGĐ - ST ngày 29/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 44/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện ly hôn tranh chấp nuôi con với anh Bùi Văn T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger