Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀ TRUNG

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 44/2024/HS-ST

Ngày 29 - 05 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Văn Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Văn Ký và bà Nguyễn Thị Liên.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hùng Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 05 năm 2024, đối với:

- Bị cáo: Đào Ngọc S, sinh ngày 11/11/1988, tại xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Đào Đức L (đã chết) và bà Nguyễn Thị L1; có vợ là: Nguyễn Thị L2 (đã ly hôn); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 19/12/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt và án phí, chưa thi hành phần bồi thường dân sự nhưng đã hết thời hiệu thi hành do người được thi hành án không có đơn yêu cầu thi hành án; ngày 16/5/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 02/11/2011, bị Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 21/11/2011, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa áp dụng biện pháp giáo dục tại xã 06 tháng; ngày 31/03/2008, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa xử lý vi phạm hành chính đưa vào Trung tâm GD-LĐXH để cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng về hành vi “Nghiện ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/02/2024 đến ngày 10/02/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

2

- Người làm chứng:

  1. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; địa chỉ: thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  2. Anh Phạm Văn C, sinh năm 1978; địa chỉ: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ, ngày 07/02/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra án Kinh tế - Ma túy Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Công an xã L đến nhà Đào Ngọc S để ký cam kết và tuyên truyền tác hại của ma túy. Quá trình tuyên truyền Đào Ngọc S đã tự nguyện giao nộp 17 gói nhỏ, trong đó có 15 gói nhỏ bọc bên ngoài bằng nilon màu xanh, tiếp đến là lớp giấy, trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn, nghi là ma túy và 02 gói nhỏ bọc bên ngoài bằng nilon màu đỏ, tiếp đến là lớp giấy, trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn, nghi là ma túy. Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra và thu giữ trên người của S 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y16, bên trong gắn hai sim số 0364440987, 0961984749 và tiền mặt 950.000 đồng. Tiến hành khám xét nơi ở của S nhưng không phát hiện và thu giữ được gì. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.

Vật chứng của vụ án gồm: 17 gói nhỏ, trong đó có 15 gói nhỏ bọc bên ngoài bằng nilon màu xanh, tiếp đến là lớp giấy, trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn, nghi là ma túy và 02 gói nhỏ bọc bên ngoài bằng nilon màu đỏ, tiếp đến là lớp giấy, trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn, nghi là ma túy, tất cả được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “Vụ Đào Ngọc S”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y16, bên trong gắn hai sim số 0364440987, 0961984749 của Đào Ngọc S; tiền mặt 950.000 đồng được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “Tiền vụ Đào Ngọc S”.

Tại Kết luận giám định số 591/KL-KTHS ngày 08/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu “ Vụ Đào Ngọc S” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,887gam, loại Heroine.

Quá trình điều tra, Đào Ngọc S khai nhận: trưa ngày 06/02/2024, S đi bộ từ nhà ra đường T và đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đến xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình, mua 01 túi ma túy, loại Heroine với giá 2.000.000 đồng của một người đàn ông không quen biết rồi đem về nhà chia thành 20 gói được gói

3

bằng giấy, trong đó có 17 gói bọc bên ngoài bằng nilon màu xanh và 03 gói bọc bên ngoài bằng nilon màu đỏ, S đã sử dụng 02 gói ma túy. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 07/02/2024, Phạm Văn C gọi điện thoại cho S hỏi mua 500.000 đồng ma túy, khoảng 15 phút sau, C đến đứng trước cổng nhà S, S đi ra ngoài và đưa cho C 01 gói ma túy và cường đưa cho S 500.000 đồng. 17 gói ma túy còn lại, S cất giấu trong giầy để ở nhà bếp nhằm mục đích sử dụng và bán lại kiếm lời. Đến khoảng 16 giờ ngày 07/02/2024 Công an đến tuyên truyền tác hại của ma túy và ký cam kết, S đã tự nguyện giao nộp 17 gói ma túy trên cho Công an.

Cáo trạng số 44/CT-VKSHT ngày 06 tháng 05 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Đào Ngọc S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Đào Ngọc S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Khoản 2, khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử phạt bị cáo Đào Ngọc S từ 39 tháng tù đến 42 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y16, bên trong gắn các sim số 0364440987 và 0961984749 của bị cáo; trả lại cho bị cáo số tiền 450.000 đồng. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Về tội danh: lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được và bản kết luận giám định, đủ cơ sở khẳng định: vào khoảng 15

4

giờ 45 phút, ngày 07/02/2024, tại nơi ở của Đào Ngọc S tại thôn C, xã L huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Đào Ngọc S đã có hành vi bán 01 gói ma túy, loại Heroine cho Phạm Văn C lấy 500.000 đồng. Ngoài ra, S còn tàng trữ 1,887gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung truy tố bị cáo Đào Ngọc S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với người bán ma tuý cho Đào Ngọc S và người đàn ông đã cho S đi nhờ xe đến xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Do không xác định được danh tính của những người này nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Phạm Văn C, sau khi mua ma túy của S, C đã sử dụng hết. Ngoài lời khai của Phạm Văn C, không có người nào chứng kiến, không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh nên không có căn cứ xử lý hình sự, xử phạt hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” đối với C.

[3]. Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Đây là chất gây nghiện, có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người, là một trong những nguyên nhân chính gây ra các loại tội phạm và tệ nạn xã hội. Mặt khác, bị cáo là đối tượng đã từng hai lần bị kết án, một lần bị xử phạt vi phạm hành chính, một lần bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã và hai lần bị áp dụng biện pháp đưa vào trường G. Mặc dù bị cáo đã chấp hành xong các quyết định và bản án nên đương nhiên được xóa án tích nhưng điều này thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã giao nộp ma túy cho Công an và tự nguyện khai báo với cơ quan điều tra về hành vi phạm tội của mình trước khi bị phát hiện, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Cần xem xét những tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4]. Về xử lý vật chứng: khối lượng ma túy cơ quan điều tra thu giữ được còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên phải tịch thu tiêu huỷ.

5

Đối với số tiền 950.000 đồng cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo, trong đó có 500.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; đối với số tiền 450.000 đồng không phải tiền thu lời bất chính nên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y16, bên trong gắn các sim số 0364440987 và 0961984749. Đây là vật chứng bị cáo sử dụng làm phương tiện liên lạc dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[5]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Tuyên bố: bị cáo Đào Ngọc S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  2. Xử phạt: bị cáo Đào Ngọc S 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 07/02/2024.
  3. Vật chứng: tịch thu tiêu huỷ toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 1,733 gam chất ma túy, loại Heroin sau giám định, tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành. Đặc điểm của phong bì niêm phong theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/05/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003210 ngày 24/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y16, bên trong gắn 02 (hai) sim (đặc điểm của điện thoại theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/05/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa).

Trả lại cho bị cáo số tiền 450.000₫ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003210 ngày 24/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

6

  1. Án phí: buộc bị cáo Đào Ngọc S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Hà Trung;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Hà Trung;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đào Văn Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 44/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vào khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 07/02/2024, tại nơi ở của Đào Ngọc Sơn tại thôn Cụ Thôn, xã Lĩnh Toại huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, Đào Ngọc Sơn đã có hành vi bán 01 gói ma túy, loại Heroine cho Phạm Văn Cường lấy 500.000 đồng. Ngoài ra, Sơn còn tàng trữ 1,887gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger