Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TỊNH BIÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HS-ST

Ngày 28 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  • - Ông Nguyễn Lâm Tới.
  • - Bà Nguyễn Thị Anh Đào.

Thư ký phiên toà: Ông Đặng Văn Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Đặng Phương Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST- HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo.

Bị cáo: Hồng Tấn Q, sinh năm 1980, nơi sinh: Xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: 178/44/17, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Kỹ thuật điện; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Hồng Tấn K, sinh năm 1945, mẹ Tô Ánh N, sinh năm 1947; anh, em có: 06 người, bị cáo là người nhỏ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Hồng Tấn Q bị tạm giam từ ngày 21/02/2024 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã T.

Người bào chữa cho bị cáo: Hồng Tấn Q có bà Nguyễn Thị T - Văn phòng Luật sư Nguyễn T - thuộc Đoàn luật sư thành phố H.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thúy V, sinh năm 1980, địa chỉ: Tổ G, ấp V, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng:

  • - Ông Trương Trần Thái N1 sinh năm 2001.
  • - Ông Trần Xuân N2, sinh năm 1984.
  • - Bà Đinh Thị Hồng A, sinh năm 1985.

(Bị cáo Q, người bào chữa cho bị cáo bà T, người làm chứng bà A có mặt, những người còn lại vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 42 phút ngày 18/02/2024, Chi cục Hải quan - cửa khẩu T2 cùng với Đ - cửa khẩu T2 đang làm nhiệm vụ kiểm soát tại luồng nhập - Trạm kiểm soát liên hợp cửa khẩu quốc tế T2 (thuộc tổ A, khóm X, phường T, thị xã T), thì Hồng Tấn Q đến làm thủ tục nhập cảnh từ Campuchia vào Việt Nam mang theo balo hành lý và túi đeo chéo trên người. Khi Q đi qua khu vực máy soi hành lý, thấy Q có biểu hiện nghi vấn, lực lượng Hải quan liền yêu cầu Q thực hiện việc khai báo hàng hóa và tiền mang về Việt Nam, nhưng Q nói không mang theo hàng hóa hay tiền tệ nên không thực hiện việc khai báo. Lực lượng Hải quan tiến hành kiểm tra trên người Quí, túi đeo chéo và vali, phát hiện bên trong túi đeo chéo của Q có 100.000.000 đồng tiền Việt Nam, trong túi quần bên phải của Q có 101.000.000 đồng và trong vali hành lý của Q có 149.000.000 đồng. Tổng số tiền Q mang theo là 350.000.000 đồng, nên Chi cục Hải quan - cửa khẩu T2 tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Q cùng tang vật.

Quá trình điều tra xác định: Ngày 12/02/2024, Q xuất cảnh từ Việt Nam sang Campuchia bằng đường cửa khẩu quốc tế V1 (thị xã T, tỉnh An Giang) để tham quan chùa và tham gia khoá tu học tại Thiền đường (không rõ tên, địa chỉ) tại thành phố P - Vương quốc Campuchia. Trong thời gian từ ngày 12/02/2024 đến ngày 18/02/2024, Q ở tại T đường và gặp chị Nguyễn Thúy V (bạn cùng tham gia khóa tu học với Q), do Q có vay tiền của Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh C và đến hạn trả nợ, nên Q hỏi mượn chị V số tiền 350.000.000 đồng tiền Việt Nam để trả tiền đáo hạn Ngân hàng, được chị V đồng ý và đưa số tiền 350.000.000 đồng cho Q mượn.

Khoảng 05 giờ ngày 18/02/2024, Q lấy số tiền 350.000.000 đồng chia ra để trong túi đeo chéo mang trên người 100.000.000 đồng, túi quần bên phải 101.000.000 đồng và để trong vali quần áo 149.000.000 đồng rồi đi xe khách biển số 65B - 015.30 (của Công ty Cổ phần X) do anh Trần Xuân N2 điều khiển về Việt Nam. Đến 09 giờ 42 phút cùng ngày, đến Trạm kiểm soát liên hợp cửa khẩu quốc tế T2, Q cùng các hành khách xuống xe làm thủ tục nhập cảnh từ Campuchia vào Việt Nam. Quá trình làm thủ tục nhập cảnh, thì bị lực lượng Chi cục Hải quan - cửa khẩu T2 kiểm tra phát hiện bắt quả tang Q cùng tang vật như nội dung vụ án.

Căn cứ Công văn số 180/ANG-TTKQHC ngày 19/02/2024 của Ngân hàng N4 - Chi nhánh A1, kết luận: Các tờ tiền:

  • + Loại 500.000 đ Polymer, với số lượng: 574 tờ;
  • + Loại 200.000 đ Polymer, với số lượng: 226 tờ;
  • + Loại 100.000 đ Polymer, với số lượng: 176 tờ;
  • + Loại 50.000 đ Polymer, với số lượng: 04 tờ.

Tổng cộng: 980 tờ (Chín trăm tám mươi tờ).

Kèm theo công văn số: 126/HQTB-KS ngày 18/02/2024 và Bảng kê số sêri từng tờ tiền của Chi cục Hải quan cửa khẩu T2 - tỉnh An Giang đề nghị giám định là tiền thật do Ngân hàng N4 phát hành

Ngày 21/2/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã ra quyết định khởi tố đối với bị cáo Hồng Tấn Q về tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới”.

Tại bản Cáo trạng số: 49/CT-VKSTB - HS ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố bị cáo Hồng Tấn Q về tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” theo điểm b khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 189, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Hồng Tấn Q mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 350.000.000 đồng

Trả lại cho bị cáo Q:

  • - Một điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, số loại Iphone XS max, màu vàng, số Imei: 357279094900874, đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy:

  • - Một vali màu đỏ - đen, đã qua sử dụng;
  • - Một cái quần vải dài, màu đen, đã qua sử dụng;
  • - Một túi đeo chéo bằng da, màu đen, đã qua sử dụng.

Quan điểm của Luật sư Nguyễn Thị T1 bào chữa cho bị cáo Hồng Tấn Q trình bày như sau :

Về xác định tội danh: Bà T1 thống nhất với Cáo trạng số: 49CT-VKSTB – HS, ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố bị cáo Hồng Tấn Q về tội “ Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” theo điểm b khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm b khoản 2 Điều 189 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ sức răn đe đối với bị cáo, vừa thể hiện tính nhân đạo đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội khắc phục, sửa chữa sai lầm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hoàn cảnh gia đình: Bị cáo là người lao động chính, là người trực tiếp nuôi cha mẹ già, tuổi cao, mẹ là bà Tô Ánh N người có công cách mạng được Chủ tịch nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhất, cha Hồng Tấn K hiện đang điều trị tại Bệnh viện có xác nhận bệnh nặng, viêm phổi, bệnh thận giai đoạn cuối, cần bị cáo Q chăm lo, chăm sóc, nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội cũng như đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, đồng thời xin xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo, cũng như về nhân thân bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, được tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, nhưng họ vắng mặt xét thấy đã có lời khai trong quá trình điều tra, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nội dung

[4] Hành vi phạm tội:

Tại phiên Tòa bị cáo Hồng Tấn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận.

Khoảng 09 giờ 42 phút ngày 18/02/2024, Hồng Tấn Q nhập cảnh từ Campuchia vào Việt Nam từ cửa khẩu T2 mang theo số tiền 350.000.000 đồng để trong túi quần, balo hành lý và túi đeo chéo trên người nhưng không khai báo Hải quan cửa khẩu T2 đang làm nhiệm vụ kiểm soát tại luồng nhập - Trạm kiểm soát liên hợp cửa khẩu quốc tế T3 phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Do đó, hành nêu trên của bị cáo Hồng Tấn Q đã phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt là tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm tù. Vì vậy, Cáo trạng số: 49/CT-VKSTB.HS ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố bị cáo Hồng Tấn Q là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[5] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hội đồng xét xử thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước, quản lý tiền tệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử phạt tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Q không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên Tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, mẹ của bị cáo bà Tô Ánh N được Chủ tịch nước tặng huy chương kháng chiến hạn nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; đối chiếu phù hợp với các quy định pháp luật và Nghị quyết số 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thấy rằng:

Căn cứ vào nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở cân nhắc đầy đủ và toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo. Đồng thời thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo được sửa chữa những sai lầm đã phạm phải; theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo làm thuê, thu nhập không ổn định, điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn, còn trực tiếp nuôi dưỡng cha, mẹ già và các con nhỏ nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là hình phạt tiền.

Đối với bà Nguyễn Thúy V cho bị cáo Q mượn số tiền 350.000.000 đồng mục đích là để trả đáo hạng Ngân hàng, còn việc Q vận chuyển trái phép số tiền này từ Campuchia vào Việt Nam bà V không biết. Nên, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà Nguyễn Thúy V là có căn cứ.

[10] Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với số tiền 350.000.000 đồng, do bị cáo Q vận chuyển trái phép qua biên giới không khai báo nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Trả lại:

Một điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, số loại Iphone XS max, màu vàng, số Imei: 357279094900874, đã qua sử dụng, xét thấy điện thoại trên không có liên quan đến việc phạm tội của bị cáo.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng phạm tội:

  • + Một vali màu đỏ - đen, đã qua sử dụng;
  • + Một cái quần vải dài, màu đen, đã qua sử dụng;
  • + Một túi đeo chéo bằng da, màu đen, đã qua sử dụng.

[11] Xét luận cứ trình bày Luật sư Nguyễn Thị T bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng các tình tiếc giảm nhẹ cho bị cáo cũng như đề áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo: Hồng Tấn Q phạm tội “ Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 299, khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  1. Xử phạt:

+ Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hồng Tấn Q 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/6/2024).

Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Hồng Tấn Q, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Hồng Tấn Q cho Ủy ban nhân dân phường H, quận N, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần của Luật Thi hành án hình sự trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 350.000.000 (Ba trăm năm mươi triệu đồng) được niêm phong trong một hợp nhựa trong suốt có nắp đậy màu đỏ, bên trong có tiền Việt Nam đồng, bên ngoài được dán niêm phong bằng hai giấy niêm phong hải quan số AB/21-080661 và AB/21-080662 cùng chữ ký của ông Lý Minh H, Phạm Quang M, Nguyễn Hữu N3, Tô Hồng S và Hồng Tấn Q.

( Kèm theo biên bản giao nhận tài sản nhận ngày 19/6/2024 của Kho bạc Nhà nước T4)

Trả lại cho bị cáo Q:

Một điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, số loại Iphone XS max, màu vàng, số Imei: 357279094900874, đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng phạm tội:

  • + Một vali màu đỏ - đen, đã qua sử dụng;
  • + Một cái quần vải dài, màu đen, đã qua sử dụng;
  • + Một túi đeo chéo bằng da, màu đen, đã qua sử dụng.

( Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên, theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên ngày 21/6/2024).

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBNTQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Hồng Tấn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng ( hai trăm nghìn đồng).

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Riêng thời hạn kháng cáo vắng mặt là 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND thị xã Tịnh Biên;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Chi cục THADS thị xã Tịnh Biên;
  • - Bộ phận THA Tòa án;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Mai Văn Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới

  • Số bản án: 44/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger