Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠ TẺH

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HS-ST

Ngày: 26-12-2023.

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Dũng.

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Trọng Hà – Ông Vũ Văn Nam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Út – Thư ký của Tòa án án nhân dân huyện Đạ Tẻh – Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thắng – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đạ Tẻh- tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với:

* Bị cáo Nguyễn Thế Anh P. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 04/12/1996, tại Lâm Đồng. Đăng ký NKTT và chỗ ở: Thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hóa: 06/12. Con ông: Nguyễn Đình T, sinh năm 1973 (đã chết). Con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976. Vợ; Con: Chưa có. Tiền án: 01 tiền án, bị TAND TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại Bản án số 138/2021/HS-ST ngày 29/06/2021, đến ngày 20/5/2023 bị cáo chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa được xoá án tích. Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 15/5/2014, bị Công an thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 750.000 đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 17/9/2014, bị TAND huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/9/2023 đến ngày 16/9/2023, tạm giam từ ngày 17/9/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt”.

* Những người làm chứng: Ông Bùi Văn M, sinh năm: 1963. Trú tại: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “ Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 07/2023, Nguyễn Thế A P có quen và biết H mua ma tuý đá. Tuy nhiên, P không biết nhân thân, lai lịch, chỉ biết H nhà ở thị trấn Đ, huyện Đ, Lâm Đồng. Vào khoảng 18 giờ ngày 07/9/2023, P đang ở Phòng số 01, nhà T thuộc Thôn D, xã Đ và có nhu cầu sử dụng ma tuý đá nên P sử dụng sim điện thoại (sim rác) liên lạc với H để nói H “Nhờ bạn gọi cho mình một cái”, nghĩa là nhờ H gọi điện thoại cho bạn của H đem một tép ma tuý đến cho P, H đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày, có một nam thanh niên khoảng 30 tuổi, P không rõ nhân thân lai lịch đến trước cửa nhà trọ P2 thuộc thôn D, xã Đ, huyện Đ thì P đi ra lấy 01 tép ma tuý và trả tiền 300.000đ. Sau khi mua được ma tuý thì P về phòng trọ nằm và cất ma tuý trong người. Đến khoảng 09 giờ 50 phút sáng ngày 08/9/2023, P cầm ma tuý trong tay đi ra khỏi phòng để mua nước uống thì bị lực lượng trinh sát ma tuý Công an huyện Đ kiểm tra, phát hiện. Lúc này, P đã vứt tép ma tuý trên tay xuống dưới nền gạch. Quá trình làm việc Nguyễn Thế Anh P đã thừa nhận tép ma tuý dưới nền gạch là của P, P tàng trữ ma tuý với mục đích để sử dụng nên Công an huyện Đ đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong 01 gói nylon, kích thước 03cm X 1,5cm, được hàn kín 04 cạnh, bên trong gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý. Tại Cơ quan điều tra, Phụng khai rõ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Qua khám xét khẩn cấp nơi ở của P tại Phòng số 01, nhà T, thuộc Thôn D, xã Đ huyện Đ. tỉnh Lâm Đồng, qua khám xét không phát hiện đồ vật, tài liệu gì. Ngày 08/9/2023, Cơ quan điều tra tiến hành test nước tiểu đối với Nguyễn Thế Anh Pl định: Phụng dương tính với ma tuý loại Methamphetamine (có sử dụng ma tuý).

Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 43/QĐ-ĐCSHS-KTMT ngày 08/9/2023 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh L tiến hành giám định chất ma tuý, xác định khối lượng ma tuý khi bắt quả tang. Tại Kết luận giám định số 1047/KL-KTHS ngày 13/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,1655g, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKSĐT ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Thế Anh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A Phụng từ 03 (Ba) năm đến 04 (B) năm tù và không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra, đại diện Viện kiển sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian tạm giam Bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình; bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 18 giờ ngày 07/9/2023, Nguyễn Thế A Phụng ở trọ phòng số 01, nhà T thuộc Thôn D, xã Đ điện thoại cho H nhờ mua ma tuý, H đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày, bạn của H đem đến trước cửa nhà trọ P2 thì P ra lấy 01 tép ma tuý và trả tiền 300.000đ. Đến khoảng 09 giờ 50 phút sáng ngày 08/9/2023, P cầm ma tuý trong tay đi ra khỏi phòng để mua nước uống thì bị Công an huyện Đ kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong 01 gói nylon, kích thước 03cm X 1,5cm, được hàn kín 04 cạnh, bên trong gói nylon chứa chất ma tuý, với tổng khối lượng là 0,1655g, loại Methamphetamine.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Thế A Phụng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi ấy đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đồng thời là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội và nhiều loại tội phạm nói chung. Bị cáo nhận thức được tác hại của chất ma túy gây ra là nguy hiểm cho bản thân và cộng đồng tuy nhiên bị cáo bất chấp pháp luật nghiêm cấm, cố tình mua ma túy để sử dụng. Bị cáo có 01 tiền án, bị TAND TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại Bản án số 138/2021/HS-ST ngày 29/06/2021, đến ngày 20/5/2023 bị cáo chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa được xoá án tích. Nhân thân: Ngày 15/5/2014, bị Công an thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 750.000 đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 17/9/2014, bị TAND huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện nay tình trạng sử dụng ma túy ngày càng gia tăng và bản thân bị cáo cũng đang bị nghiện ma túy, do vậy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (tái phạm). Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, vì bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS.

[4] Về nguồn gốc ma tuý, quá trình điều, bị cáo P khai nhận điện thoại nhờ H mua dùm. Sau đó, có một nam thanh niên đem đến nhưng P không biết nhân thân, lai lịch cụ thể của H và người thanh niên này. Khi liên lạc với H để nhờ mua ma tuý đá thì P sử dụng điện thoại di động của P loại phím bấm nhãn hiệu Masstel gắn sim rác P không nhớ số cụ thể, P đã đưa chiếc điện thoại này cho H nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Do đó, không có căn cứ xác định nội dung liên lạc giữa PH để xác định người tên H theo lời khai của P. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xác định được nên không có cơ sở xử lý do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vật chứng của vụ án:

- 01 phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên “Phạm Thị D”, “Hoàng Thị Thanh H1”, “Nguyễn Phi H2” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L”, phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định.

Xét thấy, các vật chứng trên là vật chứng cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[4] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế Anh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A Phụng 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/9/2023 ngày bị cáo bị bắt tạm giữ.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

- 01 phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên “Phạm Thị D”, “Hoàng Thị Thanh H1”, “Nguyễn Phi H2” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L”, phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định.

Hiện những vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Tẻh theo biên bản mô tả giao nhận vật chứng lập ngày 30/11/2023.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thế A P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Lâm Đồng;

- VKSND tỉnh Lâm Đồng;

- VKSND huyện Đạ Tẻh;

- Công an huyện Đạ Tẻh;

- Các bị cáo;

- Thi hành án dân sự;

- Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Lê Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 44/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger