Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THÁI HOÀ

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày 26 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1 – Ông Trần Thanh Hải

2 – Bà Nguyễn Thị Nguyệt

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị An- Chức vụ: Thẩm tra viên- Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2024/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trương Văn H, T gọi khác: không; Sinh ngày 22 tháng 5 năm 1991 tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không xác định; Con bà: Lê Thị L, sinh năm 1951; có vợ: Vũ Thị D, sinh năm 2000 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021;

    Tiền án: Không; Tiền sự: 04/05/2023, Trương Văn H bị TAND thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” thời hạn 18 tháng. Chưa chấp hành.

    Nhân thân: + Ngày 26/09/2014, Trương Văn H bị TAND thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An xử phạt 40 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong ngày 25/01/2017.

    Bị cáo Trương Văn H bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/05/2024 cho đến nay.

    Có mặt tại phiên tòa;

  2. Họ và tên: Nguyễn Văn T1, T gọi khác: không; Sinh ngày 04 tháng 7 năm 1980 tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm C, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn B – Đã chết và Con bà: Trần Thị T2, sinh năm 1943; có vợ: Hồ Thị H1 – sinh năm 1984 và 02 con đều sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo Nguyễn Văn T1 bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2024 đến nay.

    Có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Đinh Văn S, T gọi khác: không; Sinh ngày 20 tháng 6 năm 1982 tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Văn Q, sinh năm 1947 và Con bà: Trương Thị C, sinh năm 1949; có vợ: Bùi Thị T3, sinh năm 1988 và 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2011 Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: + Ngày 20/05/2014, Đinh Văn S bị TAND thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 5.000.000 đ (năm triệu đồng) về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong ngày 30/06/2017.

    + Ngày 28/07/2021, Đinh Văn S bị TAND huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 26/04/2022.

    Bị cáo Đinh Văn S bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/05/2024 cho đến nay.

    Có mặt tại phiên tòa;

  4. Họ và tên: Trương Văn H2, T gọi khác: không; Sinh ngày 07 tháng 01 năm 1995, tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Văn V – đã chết; Con bà: Trương Thị A, đã chết; vợ, con: chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: không;

    Bị cáo Trương Văn H2 bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • +Anh Trương Đình P, sinh năm 1990. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt);

    Trú tại: Xóm S, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

- Người làm chứng:

  • +Anh Đinh Quốc H3, sinh năm 1998. Có mặt.

    Trú tại: Xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An

  • +Anh Trương Lâm T4, sinh năm 1993. Vắng mặt.

    Trú tại: Xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An

  • +Anh Ngô Xuân H4, sinh năm 1992. Có mặt

    Trú tại: Xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An

  • +Bà Trương Thị H5, sinh năm 1946. Vắng mặt.

    Trú tại: Xóm X, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An

- Người chứng kiến:

  • +Anh Nguyễn Dương T5, sinh năm 1977. Vắng mặt

    Trú tại: Xóm G, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An.

  • +Ông Đoàn Văn T6, sinh năm 1946. Vắng mặt.

    Trú tại: Xóm D, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Văn H là đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma tuý. Vì muốn có ma túy để sử dụng nên vào khoảng 08 giờ ngày 24/05/2024, H một mình đón xe khách đi từ thị xã T, tỉnh Nghệ An lên thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy. Khi đi đến khu vực bến xe huyện Q, tỉnh Nghệ An thì Trương Văn H đã hỏi và mua được của một người đàn ông làm nghề xe lai (H không biết tên, tuổi, địa chỉ) 01 gói ma túy hồng phiến với giá 1.000.000 đ (một triệu đồng). Sau khi mua được ma túy thì Trương Văn H đón xe khách đi về nhà ở xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Khi về nhà, Trương Văn H mở gói ma túy ra và đếm được 10 (mười) viên nén màu hồng, mỗi viên có đường kính 0,5 cm, trên một mặt của mỗi viên có in dòng chữ “WY” là ma túy dạng hồng phiến. Trương Văn H chia 10 viên ma túy vào 03 gói ni lông trong suốt, trong đó có 02 gói ni lông trong suốt, bên trong mỗi gói có chứa 04 viên ma túy hồng phiến và 01 gói ni lông trong suốt, bên trong có chứa 02 viên ma túy hồng phiến. Sau đó, Trương Văn H cất giấu cả 03 gói ma túy nêu trên vào trong túi áo khoác để trong phòng ngủ của H nhằm mục đích sử dụng dần.

Nguyễn Văn T1 là đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma tuý. Vì muốn có ma túy để bán kiếm lời nên vào khoảng 09 giờ 00 ngày 24/05/2024, T1 một mình đón xe buýt đến khu vực thuộc xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy. Tại đây, Nguyễn Văn T1 đã hỏi và mua được của một người đàn ông (T1 không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này) 01 (một) gói ni lông, bên trong có chứa 24 viên nén màu hồng, mỗi viên có đường kính 0,5 cm, trên một mặt của mỗi viên có in dòng chữ “WY” là ma túy dạng hồng phiến với số tiền 2.000.000 đ (hai triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Văn T1 cất giấu số ma túy này vào trong người rồi đón xe buýt đi về nhà tại xóm C, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Sau khi về đến nhà, Nguyễn Văn T1 lấy 02 viên ma túy hồng phiến ra sử dụng, số ma túy còn lại T1 chia ra thành 04 gói nhỏ rồi cất giấu ở nhiều vị trí trong nhà của mình để khi có người hỏi mua thì T1 sẽ lấy ma túy bán cho người đó. Nguyễn Văn T1 cất giấu trong tủ quần áo đặt ở phòng ngủ nhà của T1 03 (ba) gói giấy bạc, trong đó có 02 ( hai) gói giấy bạc bên trong mỗi gói có chứa 04 (bốn) viên nén màu hồng và 01 gói giấy bạc bên trong có chứa (ba) viên nén màu hồng đều là ma túy hồng phiến. Tại vị trí phía trên tủ lạnh trong phòng bếp nhà Nguyễn Văn T1, T1 cất giấu 01 gói ni lông màu xanh, kích thước (02x02)cm, bên trong có chứa 06 (sáu) viên nén màu hồng là ma túy hồng phiến.

Vào khoảng 12 giờ ngày 26/05/2024, Trương Văn H, Trương Văn H2, Đinh Văn S, Trương Lâm T4, Ngô Xuân H4, Đinh Quốc H3Trương Đình P đến ăn uống tại quán ăn bà H5 thuộc xóm X, xã N, Thị xã T, tỉnh Nghệ An. ( Khi đi H có mang theo số ma tuý mà H đã mua được ở huyện Q vào ngày 24/5/2024). Tại đây, Đinh Văn S rủ những người có mặt góp tiền để mua ma túy về sử dụng. Nghe Đinh Văn S nói vậy thì Trương Văn H, Trương Văn H2, Trương Lâm T4, Ngô Xuân H4, Đinh Quốc H3Trương Đình P đều từ chối vì không có tiền. Sau đó, Đinh Văn S quay sang hỏi Trương Văn H “có lấy được không” (ý là hỏi H có mua được ma túy không) thì H trả lời là “Ok” (nghĩa là H có mua được ma túy). H2 nói với anh Trương Đình P “cho mượn xe về nhà một tý”, sau đó H chở M đi mua ma tuý. Trên đường đi, Trương Văn H sử dụng số điện thoại 0922.281.xxx gọi đến số điện thoại 0862.545.xxx của Nguyễn Văn T1 với nội dung “em chuyển khoản, để cho em năm trăm nghìn” (có nghĩa là H nói T1 bán cho H năm trăm nghìn đồng ma túy hồng phiến). Nguyễn Văn T1 trả lời “chuyển qua tài khoản vô ngân hàng cho anh rồi anh vứt cho chỗ mô đó mà lấy” (có nghĩa là T1 đồng ý bán ma túy cho H và đề nghị H chuyển tiền vào tài khoản cho T1). Do không có tiền nên Trương Văn H gọi điện cho Đinh Văn S và hỏi mượn tiền của S (S biết H mượn tiền với mục đích để mua ma túy). S đồng ý cho S vay số tiền 500.000đ ( năm trăm nghìn đồng) và đã chuyển khoản cho H số tiền trên để Trương Văn H mua ma tuý. Trương Văn H sử dụng số tài khoản 8686822051991 tại ngân hàng M1 của Trương Văn H chuyển khoản đến số tài khoản 8892395231 tại ngân hàng B1 của Nguyễn Văn T1 số tiền 500.000 đ (năm trăm nghìn đồng). Nguyễn Văn T1 lấy 05 (năm) viên nén màu hồng là ma túy hồng phiến gói vào giấy bạc rồi để trong vỏ thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng. Sau đó, Nguyễn Văn T1 cầm vỏ gói thuốc lá bên trong có chứa ma túy hồng phiến đi bộ từ nhà đến vị trí gần cột điện sát đường ray tàu hỏa, theo hướng vào nhà thờ V1 thuộc xóm C, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An và để gói ma túy ở vị trí đó rồi ra về. Sau khi về đến nhà thì Nguyễn Văn T1 gọi điện cho Trương Văn H và chỉ vị trí cất giấu gói ma túy cho H.

Trên đường đi, Trương Văn H2 hỏi H “ta đi mô đây” thì H trả lời “Đi xuống N thuận để lấy hồng phiến”, sau đó Trương Văn H2 hỏi Trương Văn H “có điếu thuốc mô đó không, cho em điếu” thì H lấy từ trong túi quần của H ra 01 gói thuốc lá nhãn hiệu YETT virnigia màu xanh bên trong có chứa 10 (mười) viên nén hình tròn màu hồng là ma túy hồng phiến do trước đó H mua được tại huyện Q, tỉnh Nghệ An vào ngày 24/05/2024 đưa cho H2, nhưng không nói cho H2 biết trong gói thuốc lá có ma túy. Trương Văn H2 mở gói thuốc lá nhãn hiệu YETT virnigia màu xanh ra lấy một điếu thuốc lá và sau đó tiếp tục giữ gói thuốc lá mà H đưa cho rồi cả hai tiếp tục đi mua ma túy. Khi đến địa điểm Nguyễn Văn T1 cất giấu gói ma túy, Trương Văn H chỉ chỗ cho Trương Văn H2 đi lấy một gói thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có chứa 05 (năm) viên ma tuý hồng phiến. Sau khi lấy xong gói ma tuý thì Trương Văn H chở Trương Văn H2 đi được một đoạn khoảng 50m thì phát hiện tổ công tác Công an thị xã T. Do luống cuống nên H và H2 bị ngã ra đường. Trương Văn HTrương Văn H2 thì bị Tổ công tác Công an thị xã T, tỉnh Nghệ An bắt quả tang, thu giữ 01 (một) gói thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng bên trong có chứa 01 (một) gói giấy bạc kích thước (2x2)cm, trong gói giấy bạc có chứa 05 (năm) viên nén hình tròn màu hồng, có đặc điểm giống nhau, mỗi viên có kích thước đường kính 0,5 cm, trên mặt mỗi viên có chữ “WY” là ma túy hồng phiến do Trương Văn HTrương Văn H2 mua được của Nguyễn Văn T1 và 01 (một) gói thuốc lá nhãn hiệu YETT virnigia màu xanh mà Trương Văn H mua ở huyện Q, tỉnh Nghệ An bên trong có chứa 02 gói ni lông trong suốt, kích thước mỗi gói (1,5x1,5)cm, bên trong mỗi gói có chứa 04 viên nén hình tròn màu hồng có đặc điểm giống nhau, mỗi viên có kích thước đường kính 0,5 cm, trên mặt mỗi viên có chữ “WY” và 01 gói ni lông trong suốt, kích thước mỗi gói (1,5x1,5)cm, bên trong có chứa 02 (hai) viên nén hình tròn màu hồng có đặc điểm giống nhau, mỗi viên có kích thước đường kính 0,5 cm, trên mặt mỗi viên có chữ “WY” là ma túy hồng phiến. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng, sau đó dẫn giải Trương Văn HTrương Văn H2 về trụ sở Công an Thị xã T để điều tra làm rõ.

Đến khoảng 19 giờ 10 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thị xã T, tỉnh Nghệ An đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn T1, trú tại xóm C, xã N, Thị xã T, tỉnh Nghệ An. Quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T1, cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã T, tỉnh Nghệ An đã thu giữ: Tại vị trí bên trong tủ quần áo, phòng ngủ của Nguyễn Văn T1 02 (hai) gói giấy bạc, hình thù không xác định, bên trong mỗi gói có chứa 04 (bốn) viên nén màu hồng, có đặc điểm giống nhau, kích thước mỗi viên 0,5cm, trên một mặt của mỗi viên có chữ "WY"; 01 (một) gói giấy bạc, hình thù không xác định, bên trong có chứa 03 (ba) viên nén màu hồng, có đặc điểm giống nhau, kích thước mỗi viên 0,5cm, trên một mặt của mỗi viên có chữ "WY" là ma túy H6 phiến. Trên vị trí tủ lạnh, phòng bếp nhà Nguyễn Văn T1 01 (một) gói ni long màu xanh, kích thước (02x02)cm, bên trong có chứa 06 (sáu) viên nén màu hồng, có đặc điểm giống nhau, kích thước mỗi viên 0,5cm, trên một mặt của mỗi viên có chữ "WY" là ma túy hồng phiến.

Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 27 tháng 05 năm 2024 tại Công an xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đinh Văn S.

Đến ngày 13 tháng 06 năm 2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trương Văn H2.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định lập hồi 17 giờ 05 phút ngày 26/05/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T xác định:

  • + 05 viên nén màu hồng trong phong bì thứ nhất có đặc điểm, kích thước giống nhau, mỗi viên có đường kính 0,5cm, trên một mặt của mỗi viên có in chữ “WY” có khối lượng là 0,54 gam (không phẩy năm mươi tư gam).
  • + 04 viên nén màu hồng trong gói ni lông trong suốt kích thước (1,5x1,5)cm thứ nhất, trong phong bì thứ hai có đặc điểm, kích thước giống nhau, mỗi viên có đường kính 0,5cm, trên một mặt của mỗi viên có in chữ “WY” có khối lượng là 0,42 gam (không phẩy bốn mươi hai gam).
  • + 04 viên nén màu hồng trong gói ni lông trong suốt kích thước (1,5x1,5)cm thứ hai, trong phong bì thứ hai có đặc điểm, kích thước giống nhau, mỗi viên có đường kính 0,5cm, trên một mặt của mỗi viên có in chữ “WY” có khối lượng là 0,43 gam (không phẩy bốn mươi ba gam).
  • + 02 viên nén màu hồng trong phong bì thứ hai có đặc điểm, kích thước giống nhau, mỗi viên có đường kính 0,5cm, trên một mặt của mỗi viên có in chữ “WY” có khối lượng là 0,20 gam (không phẩy hai mươi gam).

Như vậy, tổng 05 (năm) viên nén màu hồng trong phong bì thứ nhất (vỏ bao thuốc lá T8) thu giữ của Trương Văn HTrương Văn H2 có khối lượng là 0,54 gam (không phẩy năm mươi tư gam). Tổng 10 (mười) viên nén màu hồng trong phong bì thứ hai (vỏ bao thuốc lá YETT) thu giữ của Trương Văn H có khối lượng là 1,05 gam (một phẩy không năm gam).

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định lập hồi 20 giờ 20 phút ngày 26/05/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T xác định:

  • + 04 viên nén màu hồng trong gói thứ nhất, trong phong bì thứ nhất có khối lượng là 0,45 gam (không phẩy bốn mươi lăm gam).
  • + 04 viên nén màu hồng trong gói thứ hai, trong phong bì thứ nhất có khối lượng là 0,41 gam (không phẩy bốn mươi mốt gam).
  • + 03 viên nén màu hồng trong gói thứ ba, trong phong bì thứ nhất có khối lượng là 0,34 gam (không phẩy ba mươi tư gam).
  • + 06 viên nén màu hồng trong gói thứ hai có khối lượng là 0,61 gam (không phẩy sáu mươi mốt gam).

Như vậy, tổng 17 (mười bảy) viên nén màu hồng thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T1 có khối lượng là 1,81 gam (một phẩy tám mươi mốt gam.

Tại bản Kết luận giám định số 582/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 02/06/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • + Mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M1) thu giữ trong vỏ bao thuốc lá T8, trong quá trình bắt quả tang Trương Văn HTrương Văn H2 gửi giám định đều là ma tuý, loại Methamphetamine; số viên nén màu hồng thu giữ trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long của Trương Văn H, Trương Văn H2 có tổng khối lượng là 0,54 gam (không phẩy năm tư gam).
  • + 03 mẫu vật (ký hiệu M2, M3, M4) thu giữ trong vỏ bao thuốc lá YETT, trong quá trình bắt quả tang Trương Văn HTrương Văn H2 gửi giám định đều là ma tuý, loại Methamphetamine; số viên nén màu hồng thu giữ trong vỏ bao thuốc lá YETT thu giữ trong quá trình bắt quả tang Trương Văn H, Trương Văn H2 có tổng khối lượng là 1,05 gam (một phẩy không năm gam).
  • + 04 mẫu vật (ký hiệu M5, M6, M7, M8) thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T1 gửi giám định đều là ma tuý, loại Methamphetamine; số viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn T1 có tổng khối lượng là 1,81 gam (một phẩy tám mốt gam).

Quá trình điều tra vụ án, Trương Văn H, Trương Văn H2, Đinh Văn SNguyễn Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tố bị cáo Trương Văn H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Nguyễn Văn T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản1 Điều 251-BLHS; truy tố bị cáo Trương Văn H2Đinh Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249- BLHS;

Tại phiên toà hôm nay, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà giữ nguyên quan điểm như đã truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 -BLHS, tuyên bố bị cáo Trương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Xử phạt bị cáo Trương Văn H từ 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù đến 6 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam ngày 26/5/2024.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38- BLHS, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Xử phạt Nguyễn Văn T1 từ 30 (ba mươi) tháng tù đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 26/5/2024;
  • Áp dụng khoản 1 Điều 249, đểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38- BLHS, tuyên bố bị cáo Đinh Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Xử phạt bị cáo Đinh Văn S từ 20 (hai mươi) tháng tù đến 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 27/5/2024;
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 -BLHS. Tuyên bố bị cáo Trương Văn H2 phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Xử phạt bị cáo Trương Văn H2 từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 13/6/2024;
  • Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  • Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu, tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định cụ thể:
  • + 01 (một) phong bì thư hình chữ nhật, kích thước (23x16)cm được niêm phong lại lại đúng quy định bên trong có chứa: vỏ giấy niêm phong, 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long hình hộp chữ nhật màu vàng, kích thước (9x5x5,5x2)com; 01(một) gói gấy bạc kích thước (2x2)cm; 01gói vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu YETT màu xanh, hình hộp chữ nhật kích thước (10x5x2)cm; 02 gói ni long trong suốt kích thước mỗi gói (1,5x1,5)cm; 03 viên nén màu hồng còn lại trong phong bì thư thứ nhất có khối lượng 0,32gam có ký hiệu A1; 03 viên nén màu hồng còn lại trong phong bì thư thứ hai có khối lượng 0,33gam có ký hiệu A2; 03 viên nén màu hồng còn lại trong gói thứ hai trong phong bì thư thứ hai có khối lượng 0,33gam có ký hiệu A3 và 01 viên nén màu hồng còn lại trong phong bì thư thứ 2 có khối lượng là 0,1 gam ký hiệu là A4
  • + 01 phong bì thư hình chữ nhật, kích thước (23x16)cm được niêm phong lại đúng quy định bên trong có chứa: 03(ba) gói giấy bạc hình không xác định; 01 gói ni long màu xanh kích thước (2x2)cm; 03 viên nén màu hồng còn lại trong gói thứ nhất có khối lượng là 0,30gam, ký hiệu là A5; 03 viên ném màu hồng còn lại trong gói thứ hai, phong bì thư thứ nhất có khối lượng là 0,30 gam, ký hiệu là A6; 02 viên nén màu hồng còn lại trong gói thứ ba, phong bì thư thứ nhất có khối lượng là 0,22 gam, ký hiệu là A7; 04 viên nén màu hồng còn lại trong phong bì thư thứ nhất có khố lượng là 0,39gam, ký hiệu là A8.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • + Tuyên tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước gồm:
  • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu xanh, số IMEI 354690576861769, gắn sim số 0862545329, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T1.
  • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2111, màu xanh, số IMEI 861428051916733, đã qua sử dụng thu giữ của Đinh Văn S;
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6 plus màu trắng, số IMEI 1: 358612075492157, gắn sim số 0922281057, đã qua sử dụng thu giữ của Trương Văn H.
  • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, số IMEI 352115458008, gắn sim số 0365501876, đã qua sử dụng thu giữ của Trương Văn H.

Toàn bộ số vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành dân sự thị xã T theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/9/2024.

Biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) do bị cáo Nguyễn Văn T1 bán ma túy cho Trương Văn H mà có.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen bạc mang biển kiểm soát 37G1-86987, Trương Văn HTrương Văn H2 điều khiển để đi mua ma túy: Quá trình điều tra xác định, chiếc xe máy nêu trên là của anh Trương Đình P (Sinh năm 1990, trú tại xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An). Anh Trương Đình P không biết việc Trương Văn HTrương Văn H2 mượn chiếc xe để đi mua ma túy về sử dụng. Ngày 26/07/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thị xã T, tỉnh Nghệ An đã trả lại cho anh Trương Đình P theo đúng quy định pháp luật nên không xem xét.

Đối với hai người đàn ông bán ma túy cho Trương Văn HNguyễn Văn T1. Do không biết tên tuổi, địa chỉ của hai người trên nên không có cơ sở để xem xét.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trương Văn H, Nguyễn Văn T1, Trương Văn H2Đinh Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người người làm chứng, người chứng kiến trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa, từ đó đã có căn cứ xác định:

Vào khoảng 08 giờ ngày 24/05/2024, Trương Văn H một mình đón xe khách đi từ thị xã T đến khu vực bến xe huyện Q, tỉnh Nghệ An tìm mua ma túy về để sử dụng. Tại đây, Trương Văn H đã hỏi và mua được của một người đàn ông làm nghề xe lai (H không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này) 10 viên ma túy Methamphetamine với số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Sau khi mua được số ma túy nêu trên, Trương Văn H cất giấu trong người rồi đón xe khách đi về nhà tại xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Trương Văn H chia 10 viên ma túy ra thành 03 gói gồm: 02 gói ni lông trong suốt bên trong mỗi gói có chứa 04 viên ma túy hồng phiến và 01 gói ni lông trong suốt bên trong có chứa 02 viên ma túy hồng phiến. Sau đó, Trương Văn H cất giấu cả 03 gói ma túy nêu trên vào trong túi áo khoác để trong phòng ngủ của H nhằm mục đích sử dụng dần.

Vào khoảng 09 giờ ngày 24/05/2024, Nguyễn Văn T1 một mình đón xe buýt đi từ thị xã T đến khu vực xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An tìm mua ma túy về để bán kiếm lời. Tại đây, Nguyễn Văn T1 đã hỏi và mua được của một người đàn ông (T1 không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này) 24 viên ma túy Methamphetamine với số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Sau khi mua được số ma túy nêu trên, Nguyễn Văn T1 cất giấu trong người rồi đón xe buýt đi về nhà tại xóm C, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An và lấy 02 viên ma túy trong số ma túy vừa mua được ra sử dụng hết. Nguyễn Văn T1 chia số ma túy còn lại là 22 viên ma túy ra làm 04 gói rồi cất giấu trong tủ quần áo, trong phòng ngủ và trên tủ lạnh trong phòng bếp nhà Nguyễn Văn T1.

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 26 tháng 5 năm 2024, Trương Văn H, Trương Văn H2, Đinh Văn S và một số người bạn có đến quán ăn bà H5 thuộc xóm X, xã N, Thị xã T, tỉnh Nghệ An để ăn uống. Khi đi đến quán bà H5, H cầm theo gói thuốc lá nhãn hiệu YETT màu xanh bên trong có chứa 10 viên ma túy đã mua ở huyện Q ngày 24/5/2024. Trong quá trình ăn uống ở quán, Đinh Văn S rủ mọi người cùng nhau góp tiền đi mua ma túy về sử dụng. Nhưng những người có mặt ăn uống ở quán đều không đồng ý. Đinh Văn S hỏi Trương Văn H có lấy được ma túy không thì H trả lời ok (nghĩa là đồng ý). Sau đó H cùng với Trương Văn H2 mượn xe mô tô của anh Trương Đình P (là người ngồi ăn uống cùng) đi mua ma túy. Do không có tiền để mua ma túy nên trên đường đi Trương Văn H điện thoại hỏi vay của Đinh Văn S số tiền 500.000đ. S biết H vay tiền để mua ma túy nhưng vẫn đồng ý cho H vay tiền. Đinh Văn S đã chuyển khoản cho Trương Văn H số tiền 500.000 đồng để H và H2 đi mua ma túy. Đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, Nguyễn Văn T1 bán cho Trương Văn HTrương Văn H2 05 viên ma túy Methamphetamine với giá 500.000 đồng. (H đã đưa 500.000đ cho Nguyễn Văn T1 bằng hình thức chuyển khoản). T1 đưa gói ma túy đã bán cho H bằng cách: gói 05 viên ma túy lại rồi bỏ vào bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng rồi đem đến để tại vị trí gần cột điện sát đường ray tàu hỏa, theo hướng vào nhà thờ V1 thuộc xóm C, xã N, Thị xã T, tỉnh Nghệ An. Sau đó T1 điện thoại hướng dẫn cho H đến lấy ma túy. Khi đi đến vị trí mà T1 cất gói ma túy, H dừng xe và hướng dẫn H2 đi lấy gói ma túy. Sau khi Trương Văn H2 lấy được gói ma túy thì Trương Văn H tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Trương Văn H2 đi về. Khi H và H2 đi được khoảng 50m thì thấy tổ công tác Công an thị xã T đang làm nhiệm vụ. Do luống cuống nên H và H2 bị ngã ra đường. Trương Văn HTrương Văn H2 đã bị tổ công tác Công an thị xã T bắt quả tang có hành vi tàng trữ 0,54 gam (không phẩy năm mươi tư gam) ma túy (Methamphetamine) và Trương Văn H tàng trữ 1,05 gam (một phẩy không năm gam) ma túy (Methamphetamine) (đây là số ma túy Trương Văn H một mình đi mua tại huyện Q, tỉnh Nghệ An vào ngày 24/05/2024).

Quá trình điều tra xác định tổng khối lượng ma túy (Methamphetamine) Nguyễn Văn T1 cất giấu để bán kiếm lời và bán cho Trương Văn H là 2,35 gam (hai phẩy ba mươi lăm gam); tổng khối lượng ma túy (Methamphetamine) Trương Văn H2, Đinh Văn S tàng trữ để sử dụng là 0,54 gam (không phẩy năm mươi tư gam). Tổng khối lượng ma túy (Methamphetamine) Trương Văn H tàng trữ để sử dụng là 1,59 gam (một phẩy năm mươi chín gam).

Hành vi của Nguyễn Văn T1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của của Trương Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249- BLHS; hành vi của Trương Văn H2, Đinh Văn S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã tuy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an chung tại địa phương nên việc đưa vụ án Nguyễn Văn T1 bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Đinh Văn S, Trương Văn HTrương Văn H2 bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ra xét xử công khai là cần thiết; Các bị cáo đều là người nghiện chất ma tuý; S là người đề nghị mọi người góp tiền đi mua ma tuý về sử dụng. S hỏi H “ có lấy được không” (nghĩa là có mua được ma tuý không), H nói “ok” nghĩa là đồng ý mua ma tuý. H và H2 là người trực tiếp đi mua ma tuý về để sử dụng; quá trình đi mua H gọi điện thoại hỏi vay tiền S. S biết việc H hỏi vay tiền là để sử dụng vào việc để mua ma tuý nhưng S đã đồng ý và đã cho H vay tiền bằng hình thức chuyển khoản cho H số tiền 500.000đ ( năm trăm nghìn đồng). Sau khi nhận được tiền do S chuyển khoản, H tiếp tục chuyển số tiền 500.000đ ( năm trăm nghìn đồng) cho T1 để mua ma tuý của T1. Sau khi nhận được tiền của H thì T1 gói 5 viên ma tuý mà T1 đã mua trước đó vào giấy bạc và bỏ vào bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long rồi đưa ra vị trí để cất dấu và hướng dẫn H đến lấy ma tuý. Quá trình điều tra thu giữ của H 02 gói ma tuý (một gói có khối lượng 0,54 gam và 01 gói có khối lượng 1,05 gam) có tổng khối lượng 1,59gam. Đinh Văn S là người khởi xướng việc sử dụng ma tuý và cho H vay số tiền 500.000đ ( năm trăm nghìn đồng ) để mua ma tuý. S biết việc H vay tiền là để mua ma túy nhưng vẫn cho H vay; H là người điều khiển phương tiện và chở H2 cùng đi mua ma tuý với H. Trên đường đi H2 có hỏi H “ta đi mô đây” thì H trả lời: đi lấy ma túy. Sau đó H2 là người trực tiếp đi lấy gói ma túy mà T1 bán cho H. Trước khi bị bắt quả tang, H2 là người cầm gói ma tuý mà H mua của T1. Như vậy H2 và S đồng phạm với H về việc tàng trữ 5 viên nén màu hồng là ma tuý Methamphetamne có khối lượng 0,54gam. Bị cáo H, H2, S biết được việc việc tàng trữ trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện nhằm thoả mãn việc sử dụng trái phép chất ma tuý nên các bị cáo H2 và S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249; riêng bị cáo H tàng trữ ma tuý 2 (hai) lần nên phạm tội theo điểm b khoản 2 Điều 249- BLHS; bị cáo Nguyễn Văn T1 bán ma tuý cho H và tàng trữ ma tuý nhằm mục đích để bán với tổng khối lượng là 2,35gam nên Nguyễn Văn T1 phạm tội “Mua bán chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS.

Vì vậy cần thiết lên một mức án thật nghiêm minh với tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[4] Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cũng như nhân thân của từng bị cáo thì thấy rằng:

Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng; Bị cáo Trương Văn H có 01 tiền sự, cụ thể ngày 04/05/2023, Trương Văn H bị TAND thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” thời hạn 18 tháng. Chưa thi hành; nhân thân ngày 26/09/2014, Trương Văn H bị TAND thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An xử phạt 40 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong ngày 25/01/2017.

Bị cáo Đinh Văn S có nhân thân xấu, ngày 20/05/2014, Đinh Văn S bị TAND thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 5.000.000 đ (năm triệu đồng) về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong ngày 30/06/2017; ngày 28/07/2021, Đinh Văn S bị TAND huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 26/04/2022.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thật thà khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 điều 51 - BLHS năm 2015

Ngoài ra, bị cáo Đinh Văn S có bố là ông Đinh Văn Q được nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang và Bằng khen, Kỷ niệm chương vì đã có thành tích trong tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước; mẹ đẻ của Trương Văn H là bà Lê Thị L được Ban tặng Kỷ niệm chương thanh niên xung phong; Nguyễn Văn T1 có bố đẻ là ông Nguyễn Văn B và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T7 được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; Nguyễn Văn T1 được tặng danh hiệu Chiến sĩ giỏi trong quá trình tham gia Quân đội. Vì vậy các bị cáo Đinh Văn S, Nguyễn Văn T1Trương Văn H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51- BLHS. Tuy nhiên việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội là cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này, ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo là phù hợp.

[6] Về vật chứng của vụ án:

Cần tịch thu, tiêu huỷ số ma tuý thu giữ của Nguyễn Văn T1, Trương Văn H, Trương Văn H2 sau khi đã lấy mẫu giám định, cụ thể:

  • + 01 (một) phong bì thư hình chữ nhật, kích thước (23x16)cm được niêm phong lại lại đúng quy định, trên các mép dán của gói niêm phong có chữ ký của người liên quan, chữ ký của Trương Văn H2Trương Văn H, bên trong có chứa: vỏ giấy niêm phong, 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long hình hộp chữ nhật màu vàng, kích thước (9x5,5x2)cm; 01(một) gói gấy bạc kích thước (2x2)cm; 01(một) gói vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu YETT màu xanh, hình hộp chữ nhật kích thước (10x5x2)cm; 02 (hai) gói ni long trong suốt kích thước (1,5x1,5)cm; 03 viên nén màu hồng còn lại trong phong bì thư thứ nhất có khối lượng 0,32gam có ký hiệu A1; 03 viên nén màu hồng còn lại trong gói thứ nhất, trong phong bì thư thứ hai có khối lượng 0,33gam có ký hiệu A2; 03 viên nén màu hồng còn lại trong gói thứ hai, trong phong bì thư thứ hai có khối lượng 0,33gam có ký hiệu A3 và 01 viên nén màu hồng còn lại trong phong thư bì thứ hai có khối lượng là 0,1 gam ký hiệu là A4.
  • + 01 phong bì thư hình chữ nhật, kích thước (23x16)cm được niêm phong lại đúng quy định trên các mép dán của gói niêm phong có chữ ký của những người liên quan và chữ ký của Nguyễn Văn T1, bên trong có chứa: vỏ giấy niêm phong; 03(ba) gói giấy bạc hình không xác định; 01 gói ni long màu xanh kích thước (2x2)cm; 03 viên nén màu hồng còn lại trong gói thứ nhất có khối lượng là 0,30gam, ký hiệu là A5; 03 viên ném màu hồng còn lại trong gói thứ hai, phong bì thư thứ nhất có khối lượng là 0,30 gam, ký hiệu là A6; 02 viên nén màu hồng còn lại trong gói thứ ba, phong bì thư thứ nhất có khối lượng là 0,22 gam, ký hiệu là A7; 04 viên nén màu hồng còn lại trong phong bì thư thứ hai có khố lượng là 0,39gam, ký hiệu là A8.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • + Tuyên tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước gồm:
  • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu xanh, số IMEI 354690576861769, gắn sim số 0862545329, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T1.
  • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2111, màu xanh, số IMEI 861428051916733, đã qua sử dụng thu giữ của Đinh Văn S;
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6 plus màu trắng, số IMEI 1: 358612075492157, gắn sim số 0922281057, đã qua sử dụng thu giữ của Trương Văn H.
  • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, số IMEI 352115458008, gắn sim số 0365501876, đã qua sử dụng thu giữ của Trương Văn H.

Toàn bộ số vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành dân sự thị xã T theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/9/2024.

Biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) do bị cáo Nguyễn Văn T1 bán ma túy cho Trương Văn H mà có.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen bạc mang biển kiểm soát 37G1-86987, Trương Văn HTrương Văn H2 điều khiển để đi mua ma túy: Quá trình điều tra xác định, chiếc xe máy nêu trên là của anh Trương Đình P (Sinh năm 1990, trú tại xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An). Anh Trương Đình P không biết việc Trương Văn HTrương Văn H2 mượn chiếc xe để đi mua ma túy về sử dụng. Ngày 26/07/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thị xã T, tỉnh Nghệ An đã trả lại cho anh Trương Đình P theo đúng quy định pháp luật nên không xem xét.

[7]. Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 47 BLHS. Truy thu tại bị cáo Nguyễn Văn T1 số tiền 500.000đ (năm trăm, nghìn đồng) do bị cáo T1 bán ma túy mà có;

[8]. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Trương Văn H ở huyện Q, tỉnh Nghệ An và người đàn ông bán ma tuý cho Nguyễn Văn T1 ở huyện D, tỉnh Nghệ An do không xác định được họ tên lai lịch cụ thể nên không có cơ sở để xử lý; Đối với Đinh Quốc H3, anh Trương Lâm T4, anh Ngô Xuân H4 không thực hiện hành vi phạm tội nên không xem xét; đối với anh anh Trương Đình P là người cho H và H2 mượn xe đi mua ma tuý, nhưng anh P không biết việc H và H2 sử dụng xe để đi mua ma tuý nên anh P không phạm tội.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1.Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38- BLHS năm 2015;

Xử phạt bị cáo Trương Văn H 6 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ tạm giam ngày 26/5/2024;

Căn cứ vào khoản 1 điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38- BLHS năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 5 năm 2024.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38- BLHS năm 2015;

Xử phạt bị cáo Đinh Văn S 20 (Hai mươi) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 5 năm 2024.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38- BLHS năm 2015;

Xử phạt bị cáo Trương Văn H2 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 6 năm 2024.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 - BLTTHS năm 2015 tuyên tịch thu, tiêu hủy số ma tuý thu giữ của Nguyễn Văn T1, Trương Văn H, Trương Văn H2 sau khi đã lấy mẫu giám định còn lại, cụ thể:

  • + 01 (một) phong bì thư hình chữ nhật, kích thước (16x23)cm được niêm phong đúng quy định, trên các mép dán của gói niêm phong có chữ ký của người liên quan, chữ ký của Trương Văn H2Trương Văn H, bên trong có chứa: vỏ giấy niêm phong, 01 (một) gói vỏ bao thuốc lá Thăng Long hình hộp chữ nhật màu vàng, kích thước (9x5,5x2)cm; 01(một) gói gấy bạc kích thước (2x2)cm; 01(một) gói vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu YETT màu xanh, hình hộp chữ nhật kích thước (10x5x2)cm; 02 (hai) gói ni long trong suốt kích thước (1,5x1,5)cm; 03 viên nén màu hồng còn lại trong phong bì thư thứ nhất có khối lượng 0,32gam có ký hiệu A1; 03 viên nén màu hồng còn lại trong gói thứ nhất, trong phong bì thư thứ hai có khối lượng 0,33gam có ký hiệu A2; 03 viên nén màu hồng còn lại trong gói thứ hai, trong phong bì thư thứ hai có khối lượng 0,33gam có ký hiệu A3 và 01 viên nén màu hồng còn lại trong phong thư bì thứ hai có khối lượng là 0,1 gam ký hiệu là A4.
  • + 01 phong bì thư hình chữ nhật, kích thước (16 x 23)cm được niêm phong lại đúng quy định trên các mép dán của gói niêm phong có chữ ký của những người liên quan và chữ ký của Nguyễn Văn T1, bên trong có chứa: vỏ giấy niêm phong; 03(ba) gói giấy bạc hình không xác định; 01 gói ni long màu xanh kích thước (2x2)cm; 03 viên nén màu hồng còn lại trong gói thứ nhất có khối lượng là 0,30gam, ký hiệu là A5; 03 viên ném màu hồng còn lại trong gói thứ hai, phong bì thư thứ nhất có khối lượng là 0,30 gam, ký hiệu là A6; 02 viên nén màu hồng còn lại trong gói thứ ba, phong bì thư thứ nhất có khối lượng là 0,22 gam, ký hiệu là A7; 04 viên nén màu hồng còn lại trong phong bì thư thứ nhất có khố lượng là 0,39gam, ký hiệu là A8.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • + Tuyên tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước gồm:
  • + 01(một) phong bì thư kích thước (18x10)cm được dán kín, trên các mép dán có chữ ký của người liên quan, bên trong có 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu xanh, số IMEI 354690576861769, gắn sim số 0862545329, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T1.
  • + 01(một) phong bì thư kích thước (18x10)cm được dán kín, trên các mép dán có chữ ký của người liên quan, bên trong có 01 (một ) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2111, màu xanh, số IMEI 861428051916733, đã qua sử dụng thu giữ của Đinh Văn S;
  • + 01(một) phong bì thư kích thước (18x10)cm được dán kín, trên các mép dán có chữ ký của người liên quan, bên trong có 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6 plus màu trắng, số IMEI 1: 358612075492157, gắn sim số 0922281057, đã qua sử dụng thu giữ của Trương Văn H.
  • + 01(một) phong bì thư kích thước (18x10)cm được dán kín, trên các mép dán có chữ ký của người liên quan, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, số IMEI 352115458008, gắn sim số 0365501876, đã qua sử dụng thu giữ của Trương Văn H.

Toàn bộ số vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Thái Hòa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/9/2024.

Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106-Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 điều 47- Bộ luật Hình sự. Truy thu tại bị cáo Nguyễn Văn T1 số tiền 500.000đ (năm trăm, nghìn đồng) do bị cáo T1 bán ma túy mà có;

3. Án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án (kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án). Buộc các bị cáo Trương Văn H, Trương Văn H2, Nguyễn Văn T1Đinh Văn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ an trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Công an thị xã Thái Hòa;
  • - VKSND thị xã Thái Hòa;
  • - Chi cục THADS thị xã Thái Hòa;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • -Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 44/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Trương Van Hai và đồng phạm tàng trữ và mua bán ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger