TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày: 26-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Nhị
- Ông Võ Đức Huy
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Thái Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Minh B; (tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1992; Nơi sinh: Long An; Chỗ ở hiện nay: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 0/12; Nghề nghiệp: làm mướn; Cha: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1963; Mẹ: Lê Thị A, sinh năm 1963; Bị cáo chưa có vợ và con.
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 12/09/2023, bị Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, tỉnh Long An xử phạt 2.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản (chưa chấp hành).
Nhân thân: Ngày 06/06/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
Ngày 08/04/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
Ngày 19/08/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
Ngày 20/02/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 26/3/2024 đến nay có mặt tại phiên tòa
- Bị hại:
- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1963; Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An. (có mặt)
- Ông Huỳnh Thanh T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Huỳnh Văn B1, sinh năm 1960; Địa chỉ: Số B ấp D, xã B, thành phố T, tỉnh Long An. (vắng mặt không rõ lý do)
- Ông Trần Văn G, sinh năm 1968; Địa chỉ: Số B ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Long An. (vắng mặt không rõ lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12/9/2023, Nguyễn Minh B bị C, thành phố T, tỉnh Long An xử phạt 2.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản, chưa chấp hành. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên B nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác. Khoảng từ tháng 12/2023 đến tháng 02/2024, B đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện T và thành phố T, cụ thể như sau:
Lần thứ 1: Vào lúc 16 giờ 45 ngày 01/12/2023, B điều khiển xe mô tô biển số 62F3-6371 (mượn của ông Huỳnh Văn B1) gắn biển số giả 51R3-3543 đi từ khu công nghiệp H thuộc Ấp G, xã N, huyện T về nhà mẹ ruột tại xã P, huyện C. Khi đi đến khu vực ấp B, xã B thì B nhìn thấy nhà ông Nguyễn Văn V có 02 đồng hồ nước sinh hoạt không có người trông coi nên B dùng chân đạp gãy 02 đồng hồ nước để lấy trộm thì bị ông V phát hiện, bắt giữ cùng tang vật.
Lần thứ 2: khoảng 20 giờ ngày 09/02/2024, B đi bộ đến khu vực hội chợ Hoàng A1 ở Sân vận động Long An thuộc Phường B, thành phố T, B lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen cam, biển số 63B8-241.57 của Huỳnh Thanh T. Bụi đẩy xe mô tô vừa lấy trộm được ra khu vực Công viên đối diện Hội chợ để cất giấu. Sau đó, B đi bộ đến bến xe L thuộc phường B, thành phố T và thuê 01 người chạy xe ôm tên T1 không rõ nhân thân cùng với B đẩy xe mô tô 63B8-241.57 đi cất giấu. T1 chạy xe đẩy Bụi ngồi trên xe 63B8-241.57 đi đến vựa phế liệu của ông Trần Văn G, ở số B, Ấp B, xã B, thành phố T, Long An. B nói với ông G là xe mô tô 63B8-241.57 bị mất chìa khóa và xin gửi xe qua Tết làm chìa khóa rồi lấy xe, ông G đồng ý. B đem xe ra dựng ở phía sau nhà ông G. Sau đó, T1 chở B đến phía trước cổng bệnh viện Đ thì B xuống xe và bỏ đi.
Quá trình điều tra, ông G trình bày ngày 12/02/2024 B quay lại lấy xe mô tô 63B8-241.57 đem đi. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra B chỉ thừa nhận có trộm xe nhưng không thừa nhận quay lại lấy xe mô tô 63B8-241.57 đã gửi cho ông G. Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi được xe mô tô 63B8-241.57.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 1468/KL-ĐGTS ngày 29/12/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T kết luận giá trị của 02 (hai) đồng hồ nước sinh hoạt tại thời điểm 01/12/2023 là 486.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 20/02/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố T, Long An kết luận giá trị của 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen cam, biển số 63B8: 241.57 tại thời điểm 09/02/2024 là 20.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa truy tố Nguyễn Minh B về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Minh B về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong phần luận tội, ông Kiểm sát viên đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng - giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh B từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Tịch thu tiêu hủy 01(một) biển số 51R3-3543.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Huỳnh Thanh T số tiền 20.000.000đ.
Tại phiên tòa: Bị cáo không thực hiện quyền tranh luận mà xin giảm nhẹ hình phạt. Bị hại không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng
[1.1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Hồ sơ vụ án thể hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố vụ án thì hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên được tiến hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[1.2]. Ông Huỳnh Văn B1, ông Trần Văn G vắng mặt không rõ lý do nhưng đều đã có lời khai trong quá trình điều tra đồng thời việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã nêu, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại tại CQĐT và tại phiên tòa, biên bản thu giữ vật chứng, các biên bản định giá tài sản và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa nên có đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Nguyễn Minh B có 01 tiền sự về hành vi Trộm cắp tài sản, chưa chấp hành. Ngày 01/12/2023, B đã lén lút lấy trộm 02 đồng hồ nước sinh hoạt trị giá 486.000 đồng của ông Nguyễn Văn V tại ấp B, xã B, huyện T. Ngày 09/02/2024, B lén lút lấy trộm 01 xe mô tô biển số 63B8: 241.57 của anh Huỳnh Thanh T tại Sân vận động Long An thuộc Phường B, thành phố T trị giá 20.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Minh B lấy trộm là là 20.486.000đ. Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Minh B đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản"quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[2.2]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi gây ra: Hành vi trái pháp luật của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi đó không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần thiết phải xử lý các bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[2.3]. Các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Nhân thân: Ngày 06/06/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 08/04/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 19/08/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 20/02/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
[2.4]. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Minh B là ít nghiêm trọng tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Khi quyết định hình phạt bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình nên Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo hình phạt tù ở mức khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[2.3]. Về trách nhiệm dân sự:
[2.3.1]. Bị hại T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên HĐXX ghi nhận.
[2.3.2]. Ông Nguyễn Văn V đã nhận lại tài sản và không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[2.4]. Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
01(một) biển số 51R3-3543 bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
[3]. Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu nâu, số khung: C100M-0144578, số máy: C100ME-0144578 của ông Huỳnh Văn B1 cho Nguyễn Minh B mượn, khi B sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ông B1 không biết. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an đã trả lại cho ông B1 là phù hợp.
[4]. Đối với Trần Văn G đã cho bị can Nguyễn Minh B gửi xe mô tô biển số 63B8: 241.57 nhưng ông G không biết xe mô tô trên do B trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T không xử lý hình sự đối với ông G là có cơ sở.
[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh B 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm 26/3/2024.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Minh B 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/8/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện buộc bị cáo Nguyễn Minh B có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Huỳnh Thanh T số tiền 20.000.000₫.
- Từ ngày ông Huỳnh Thanh T có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền chưa bồi thường thì bị cáo Nguyễn Minh B còn phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01(một) biển số 51R3-3543
(Vật chứng này do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 29/QĐ-VKS ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Nguyễn Minh B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và chịu 1.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
- Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/8/2024); Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
- Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hương |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh B
