Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BÌNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/DS-ST

Ngày: 26 – 4 - 2024

V/v Tranh chấp về hợp đồng

dân sự vay và thế chấp tài sản

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hồng Biên.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Văn Liệt.
  2. Ông Trần Quang Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Nhân – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 339/2023/TLST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay và thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Trà Thị T năm 1968.
  • Địa chỉ cư trú: Số D, khóm T, thị trấn T, huyện T, Đồng Tháp.

  • Bị đơn: 1. Bà Bùi Thị T1 năm 1968.
  • 2. Anh Đinh Phan H năm 1988.

    Cùng địa chỉ cư trú: Khóm T, thị trấn T, huyện T, Đồng Tháp

    Bà Trà Thị T2 có mặt tại phiên tòa; bà Bùi Thị T3 anh Đinh Phan H1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Trà Thị T2 trình bày:

Bà Trà Thị T2 cho bà Bùi Thị T3 anh Đinh Phan H1 vay 03 lần, cụ thể:

- Lần 1: Ngày 27/10/2021, bà T cho bà T18 số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, thời hạn trả là 12 tháng. Để đảm bảo khoản vay, bà Tlanh H thế chấp cho bà T thửa đất số 12, tờ bản đồ số 50, diện tích 189,8m², trong đó: diện tích 164m² là đất ở đô thị và diện tích 25,8m² là đất trồng cây lâu năm, tọa lạc khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số bìa BM 952226, vào số cấp GCN: CH 01226, cấp ngày 22/4/2019, cấp cho ông Đinh Văn Pbà Bùi Thị T4 (sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Việc vay và thế chấp có viết giấy tay “Hợp đồng vay thế chấp ngày 27/10/2021”.

- Lần 2: Ngày 20/11/2021, bà T cho bà Tlanh H vay số tiền 15.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 tuần, không lãi suất, anh H2 người nhận tiền, không có lập văn bản riêng, bà T viết chung vào Hợp đồng vay thế chấp ngày 27/10/2021.

- Lần 2: Ngày 25/11/2021, bà T cho bà Tlanh H vay số tiền 5.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 ngày (mượn đỡ hôm sau trả), không lãi suất, anh H2 người nhận tiền, không có lập văn bản riêng, bà T viết chung vào Hợp đồng vay thế chấp ngày 27/10/2021.

Bà T đã giao tiền vay cho bà Tlanh H xong; bà Tlanh H trả cho bà T được 01 tháng tiền lãi, với số tiền 4.000.000 đồng vào ngày 27/11/2021. Ngoài ra, không có trả thêm bà T bất kỳ khoản tiền gốc và lãi nào khác.

Tính đến ngày 26/4/2024, bà Tlanh Hcòn nợ bà T5 tiền gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 28/10/2022 đến ngày 26/4/2024 là 17 tháng 28 ngày: 200.000.000 đồng x 20%/năm x 17 tháng 28 ngày = 59.539.000 đồng. Bà T6 ý trừ số tiền lãi đã nhận là 4.000.000 đồng vào số tiền lãi 59.539.000 đồng, còn lại là 55.539.000 đồng. Như vậy, bà Tanh H3 nợ số tiền gốc và lãi là 255.539.000 đồng.

Nay bà Trà Thị T7 cầu Tòa án giải quyết, cụ thể:

  • Yêu cầu hủy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 27/10/2021 giữa bà Trà Thị T8 bà Bùi Thị Tlanh Đinh Phan H4
  • Đồng ý trả lại cho bà Bùi Thị T9 Đinh Phan Hbản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • Yêu cầu bà Bùi Thị T3 anh Đinh Phan H1 có trách nhiệm trả số tiền gốc và lãi là 255.539.000 đồng (Hai trăm năm mươi lăm triệu năm trăm ba mươi chín nghìn đồng), yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi hoàn thành việc trả nợ.
  • Xin rút lại yêu cầu bà Bùi Thị T3 anh Đinh Phan H1 trả cho bà T số tiền gốc 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Bị đơn bà B không có Văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án.

* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trà Thị T2

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:

  • Hợp đồng vay thế chấp ngày 27/10/2021 (Bản chính).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của bà Trà Thị T2 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay và thế chấp tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn bà Bùi Thị Tlanh Đinh Phan H5 cư trú tại khóm T, thị trấn T, huyện T, Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà Bùi Thị Tlanh Đinh Phan H5 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét tính hợp pháp của các Hợp đồng vay tài sản giữa bà Trà Thị T2 và bà Bùi Thị Tlanh Đinh Phan H4

Xét thấy, sau khi đạt được sự thỏa thuận, bà T và bà Tlanh H đã xác lập Hợp đồng vay tài sản. Tại thời điểm ký kết Hợp đồng vay tài sản, bà T và bà Tlanh H có khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định. Do đó, khi ký kết Hợp đồng vay tài sản thì bà T và bà Tlanh H đều có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật. Việc giao kết được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội nên Hợp đồng vay tài sản có hiệu lực pháp luật theo quy định khoản 1 Điều 117 và Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[2.2] Xét tính hợp pháp của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa bà Trà Thị T2 và bà Bùi Thị T1anh Đinh Phan H4

Xét thấy, khi vay giữa bà T8 bà Tlanh Hcó thỏa thuận thế chấp tài sản là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không có công chứng hoặc chứng thực, không có đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Như vậy, có cơ sở xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa bà T8 bà Tlanh H vi phạm quy định về hình thức, thủ tục thế chấp theo quy định tại khoản 2 Điều 167 của Luật đất đai năm 2013.

Cho nên, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa bà Trà Thị T8 bà B sẽ vô hiệu theo quy định tại Điều 129 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Theo quy định của pháp luật, giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên có trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận được quy định tại khoản 2 Điều 131 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[2.3] Xét yêu cầu của bà Trà Thị T2, cụ thể:

  • Yêu cầu hủy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 27/10/2021 giữa bà Trà Thị T8 bà Bùi Thị T1anh Đinh Phan H4
  • Đồng ý trả lại cho bà Bùi Thị T9 Đinh Phan Hbản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Xét thấy: Như phần phân tích tại mục 2.1, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 27/10/2021 bị vô hiệu nên yêu cầu của bà T10 có căn cứ chấp nhận.

  • Yêu cầu bà Bùi Thị T3 anh Đinh Phan H5 có trách nhiệm trả số tiền gốc và lãi là 255.539.000 đồng (Hai trăm năm mươi lăm triệu năm trăm ba mươi chín nghìn đồng), yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi hoàn thành việc trả nợ.

Xét thấy: Theo Hợp đồng vay ngày 27/10/2021 thể hiện bà Tlanh Hcó nhận của bà T5 tiền là 200.000.000 đồng, thời hạn trả là 12 tháng. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà T11 định bà Tlanh Hchưa trả bất kỳ khoản tiền gốc nào cho bà T12 nên, có cơ sở xác định bà Tlanh Hđã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho bà T13 thỏa thuận. Vì vậy, bà T7 cầu bà Tlanh H trả số tiền gốc 200.000.0000 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

Về lãi suất: Tiền lãi tính từ ngày 28/10/2022 đến ngày 26/4/2024 là 17 tháng 28 ngày: 200.000.000 đồng x 20%/năm x 17 tháng 28 ngày = 59.539.000 đồng. Bà T6 ý trừ số tiền lãi đã nhận là 4.000.000 đồng vào số tiền lãi 59.539.000 đồng, còn lại là 55.539.000 đồng. Việc yêu cầu tính lãi nêu trên phù hợp theo quy định khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Văn bản tố tụng cho bà Tlanh H nhưng bà Tlanh Hkhông có Văn bản ghi ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của bà TĐồng thời, bà Tlanh Hcũng không tham gia bất kỳ phiên làm việc, phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa do Tòa án mở. Như vậy, bà Tlanh H đã từ bỏ quyền chứng minh của mình nên phải tự chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình và phải chịu trách nhiệm đối với khoản vay theo yêu cầu của bà T14

Từ những phân tích đã nêu trên, bà T7 cầu bà Tlanh Htrả cho bà T5 tiền gốc và lãi là 255.539.000 đồng (Hai trăm năm mươi lăm triệu năm trăm ba mươi chín nghìn đồng) là có căn cứ chấp nhận.

  • Xin rút lại yêu cầu bà Bùi Thị T3 anh Đinh Phan H5 trả cho bà T số tiền gốc 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Xét thấy: Việc rút yêu cầu nêu trên của bà T là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái với đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu nêu trên theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T nên bà Tlanh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Khoản 1 Điều 117, khoản 2 Điều 131, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Khoản 2 Điều 167 của Luật đất đai năm 2013;

Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trà Thị T15

  • Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng thế chấp ngày 27/10/2021 giữa bà Trà Thị T8 bà Bùi Thị T1anh Đinh Phan H4
  • Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trà Thị T16 việc trả cho bà Bùi Thị T9 Đinh Phan H6 chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số bìa BM 952226, vào số cấp GCN: CH 01226, cấp ngày 22/4/2019, cấp cho ông Đinh Văn Pbà Bùi Thị T4
  • Buộc bà Bùi Thị Tlanh Đinh Phan H5 trả cho bà Trà Thị T2 số tiền gốc và lãi là 255.539.000 đồng (Hai trăm năm mươi lăm triệu năm trăm ba mươi chín nghìn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  • Đình chỉ yêu cầu bà Bùi Thị T3 anh Đinh Phan H5 trả cho bà Trà Thị T2 số tiền gốc 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Về án phí:

Buộc bà Bùi Thị Tlanh Đinh Phan H5 chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 12.777.000 đồng (Mười hai triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn đồng).

Trả cho bà Trà Thị T17 tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.597.000 đồng (Sáu triệu năm trăm chín mươi bảy nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000416 ngày 27/10/2023 và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006347 ngày 21/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án và bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • Đương sự;
  • VKSND huyện Thanh Bình;
  • CC THA DS huyện Thanh Bình;
  • TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Hồng Biên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng dân sự vay và thế chấp tài sản

  • Số bản án: 44/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay và thế chấp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng thế chấp ngày 27/10/2021 giữa bà Trà Thị T và bà Bùi Thị T, anh Đinh Phan H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger