|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/DS-ST
Ngày 25-7-2024
V/v tranh chấp hợp đồng
tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Ngôn và bà Nguyễn Đức Hiền.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Ánh – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Việt Anh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25/7/2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-DS ngày 01/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2024/QĐST-DS ngày 01/7/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N1 (A).
Địa chỉ trụ sở: số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V- chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Văn K. Chức vụ: Giám đốc A – Chi nhánh K Bắc Giang.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn L. Chức vụ: Trưởng phòng khách hành A – Chi nhánh khu công nghiệp Đ Bắc Giang. (Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Hoàng Văn H; sinh năm 1974.
Nơi cư trú: số nhà C đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, ông Nguyễn Văn L là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 2502LAV200803205 ngày 30/10/2008 đã ký giữa A Chi nhánh Khu công nghiệp Đ Bắc Giang (Bên cho vay- Bên A) với bà Phạm Hoàng Y (Bên vay vốn- Bên B).
Hai bên đã cam kết thống nhất trên hợp đồng tín dụng về việc bên A cho bên B vay tiền theo nội dung thỏa thuận dưới đây:
Hợp đồng tín dụng được cấp: 20.000.000 đồng. (Bằng chữ: Hai mươi triệu đồng chăn).
Thời hạn cho vay: 36 tháng.
Mục đích sử dụng tiền vay: Mua xe máy + Đồ nội thất
Dư nợ gốc đến ngày 25/7/2024 là: 14.000.000 đồng.
Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.
Quá trình vay, ông Hoàng Văn H đã vi phạm hợp đồng tín dụng số: 2502LAV200803205 ngày 30/10/2008, không trả nợ gốc, lãi đầy đủ đúng hạn.
Nay A đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang buộc ông Hoàng Văn H phải trả nợ số tiền: 36.271.556 đồng. Trong đó:
Nợ gốc là: 14.000.000 đồng.
Nợ lãi là: 22.271.556 đồng
Và toàn bộ số tiền lãi, phí phát sinh đến ngày trả nợ.
Bị đơn ông Hoàng Văn H vắng mặt tại phiên toà, quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiệu tập nhiều lần nhưng ông H vắng mặt. Toà án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thu thập được lời khai của bà Nguyễn Thị Thu T là vợ của ông H trình bày:
Hiện nay các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho ông H, bà T đã nhận thay và có thông báo lại cho chồng bà T là ông H. Hiện nay H làm nghề lái xe, thường xuyên vắng nhà, thỉnh thoảng anh H có về gia đình. Hiện tại anh H không còn đăng ký hộ khẩu ở tại thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang mà đăng ký hộ khẩu thường trú tại số nhà C đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Hiện nay N hang Nông nghiệp và phát triển Nông thôn A khởi kiện yêu cầu ông Hoàng Văn H phải trả ngân hang A số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 20/12/2023 là 35.339.000 đồng (Ba mươi lăm triệu ba trăm ba mươi chin nghìn đồng), trong đó: gốc vay là 14.000.000 đồng, lãi tạm tính là 21.339.000 đồng. Ông H có quan điểm là ông H có ký hợp đồng vay tiền của Ngân hàng A khu công nghiệp Đ Bắc Giang vay số tiền 20.000.000đ, nhưng số tiền vay này ông H không được nhận mà toàn bộ số tiền vay ngân hàng do Công ty C được nhận tiền.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1, buộc ông Hoàng Văn H phải trả cho Ngân hàng N1 tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 25/7/2024 là 36.271.556 đồng, trong đó nợ gốc là 14.000.000 đồng, nợ lãi là 22.271.556 đồng.
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ông Hoàng Văn H phải chịu án phí do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận. Hoàn trả Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và việc thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là Ngân hàng N1 khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông Hoàng Văn H trả tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký, do ông H vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi theo theo thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng tín dụng. Nguyên đơn có giấy phép đăng ký kinh doanh, bị đơn không có giấy phép đăng ký kinh doanh. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn cư trú tại số nhà C, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Các bên thực hiện hợp đồng tại Ngân hàng N2 - Chi nhánh Khu công nghiệp Đ, địa chỉ: Lô B, Khu công nghiệp Đ, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
[2] Về thời hiệu: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 2502LAV200803206 và phụ lục hợp đồng ngày 30/10/2008; Hợp đồng tín dụng bổ sung về áp dụng lãi suất cho vay linh hoạt ngày 15/4/2009 ký kết giữa Ngân hàng N1 chi nhánh K Bắc Giang thì ông Hoàng Văn H vay tiền của Ngân hàng N1 chi nhánh K Bắc Giang số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng kể từ ngày 31/10/2008. Ông H đã trả được 6.000.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh. Ngày 31/10/2010 khoản nợ của ông H chuyển quá hạn do ông H vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngày 20/12/2023 Ngân hàng N1 nộp đơn khởi kiện yêu cầu ông H trả số tiền vay. Vụ án không có đương sự nào yêu cầu áp dụng thời hiệu. Áp dụng khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không áp dụng quy định về thời hiệu.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự: đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt, đã có đơn xin vắng mặt, ông Hoàng Văn H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ Điều 227; Điều 228, điểm a, b Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, lời khai của nguyên đơn, bị đơn đủ cơ sở xác định: Ngày 30/10/2008 ông Hoàng Văn H ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng N1 để vay số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); thời hạn vay 36 tháng, tính từ ngày 31/10/2008, phân kỳ trả nợ: Ngày 19/11/2009 trả 6.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh; ngày 19/11/2010 trả 7.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh; ngày 19/11/2011 trả 7.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh. Sau khi vay ngày 23/10/2009 ông H trả được 6.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh. Ngày 30/10/2010 ông H không trả được tiền gốc, tiền lãi theo thỏa thuận, ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán, khoản nợ chuyển nợ quá hạn từ ngày 31/10/2010. Việc ông H không thực hiện trả nợ gốc và lãi theo kỳ hạn trả nợ là vi phạm điều khoản trong hợp đồng tín dụng và phục lục hợp đồng đã ký. Tính đến hết ngày 23/7/2024 ông H còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 14.000.000 đồng và tiền lãi là 22.271.556 đồng.
Anh Hoàng Văn H xác định năm 2008 ông ký hợp đồng vay vốn với Ngân hàng N1, trong hợp đồng ghi là để mua xe máy + đồ nội thất, nhưng thực tế là vay tiền cho Công ty cổ phần C. Bản thân ông và gia đình không liên quan gì đến việc này. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy ông H là người ký hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng. Ngân hàng không đồng ý chuyển giao nghĩa vụ. Ngoài ra mặc dù hợp đồng tín dụng thể hiện ông H vay tiền Ngân hàng để mua xe máy + đồ nội thất, nhưng thực tế việc ông H vay tiền, vợ ông không biết và ông H không sử dụng tiền vay vào việc gia đình, hơn nữa Ngân hàng chỉ yêu cầu một mình ông H phải trả số tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng.
Như vậy, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Hoàng Văn H trả số tiền nợ gốc và lãi nêu trên là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 370 Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N3 nên được chấp nhận.
[5] Trong vụ án này vợ ông Hoàng Văn H khai ông đứng tên ký hợp đồng tín dụng vay tiền Ngân hàng cho Công ty cổ phần C. Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ thì thấy: Hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng tín dụng ông Hoàng Văn H là người vay ký. Hiện Công ty cổ phần C bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không còn tồn tại trên cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Ngân hàng không đồng ý chuyển giao nghĩa vụ. Do đó Hội đồng xét xử không xác định Công ty cổ phẩn chế biến nông sản thực phẩm Bắc Giang và các thành viên Hội đồng quản trị như ông H cung cấp là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Sau này có tranh chấp, ông Hoàng Văn H được khởi kiện Công ty cổ phần C hoặc các thành viên hội đồng quản trị bằng vụ án khác.
[6] Về án phí: Yêu cầu của Ngân hàng N1 được chấp nhận nên ông H phải chịu án phí dân sự theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Hoàn trả Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 90, Điều 91, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ khoản 1 Điều 370, khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147; khoản 2 Điều 184; Điều 227; Điều 228; Điểm a, b Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1.
Buộc ông Hoàng Văn H phải trả cho Ngân hàng N1 tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 25/7/2024 là 36.271.556 đồng (Ba mươi sáu triệu hai trăm bẩy mốt nghìn năm trăm năm mươi sáu đồng) trong đó nợ gốc là 14.000.000 đồng, nợ lãi là 22.271.556 đồng.
Kể từ ngày 26/7/2024, ông Hoàng Văn H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 2502LAV200803206 ngày 30/10/2008 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí: Ông Hoàng Văn H phải chịu 1.813.570đ (Một triệu tám trăm mười ba nghìn năm trăm bảy mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.667.000 đồng theo biên lai số 0003336 ngày 23/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Trường |
Bản án số 44/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 44/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hđ tín dụng
