Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN THỤY

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 44/2024/HS-ST

Ngày 24-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Lượng

Bà Đặng Thị Đôi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Uy - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Thế H, sinh ngày 01/12/1990 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn P và bà Trần Thị C; có vợ là Vũ Thị L và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 08/6/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ ngày 04/6/2024 H đi xe taxi đến khu vực đường tàu thuộc quận L, thành phố Hải Phòng mua 03 túi ma túy loại Ketamine và 05 viên ma túy loại MDMA của người phụ nữ không quen biết, với giá 4.850.000đồng để sử dụng cho bản thân. Sau đó, H đi xe taxi về nhà lấy 01 viên ma túy MDMA sử dụng hết ¼ viên, còn lại ¾ viên bị vỡ thành 03 mảnh cất vào túi nilon; rồi tiếp tục lấy 01 túi ma túy Ketamine sử dụng một phần, số còn lại gói vào tờ 2.000đồng cho vào túi nilon; H cất ma túy còn lại lên kệ bát đĩa trong bếp. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, H cầm 04 viên ma túy MDMA và 02 túi ma túy Ketamine cho vào khẩu trang màu trắng cuộn tròn lại, mang ra bờ đê thuộc xã Đ cất giấu, thì bị Công an huyện K kiểm tra phát hiện, thu giữ ở lòng bàn tay trái H 01 chiếc khẩu trang màu trắng cuộn tròn, bên trong có 02 túi nilon cùng kích thước 03x03cm chứa tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M1) và 04 viên nén hình tam giác màu xám (niêm phong ký hiệu M2)

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Thế H thu giữ trên kệ bát đĩa trong bếp 01 túi nilon kích thước 05x07cm bên trong có 03 mảnh của viên nén màu xám (niêm phong ký hiệu MK1) và 01 túi nilon kích thước 07x11cm bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 2.000đồng được gấp lại chứa tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu MK2)

Kết luận giám định số 686/KL-KTHS ngày 08/6/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Tinh thể màu trắng mẫu M1 là ma túy loại Ketamine, có khối lượng 1,55gam; 04 viên nén hình tam giác màu xám mẫu M2 là ma túy loại MDMA, có khối lượng 2,33gam; 03 mảnh vỡ của viên nén màu xám mẫu MK1 là ma túy loại MDMA, có khối lượng 0,33gam; tinh thể màu trắng mẫu MK2 là ma túy loại Ketamine, có khối lượng 0,50gam.

Vật chứng còn lại gồm: 02 phong bì niêm phong (01 phong bì có dấu niêm phong số 686MT-A/PC09 bên trong có 1,57gam Ketamine và 2,03gam MDMA, cùng vỏ bao mẫu vật và 01 phong bì có dấu niêm phong số 686MT-B/PC09 bên trong có tờ tiền mệnh giá 2.000đồng), 01 chiếc khẩu trang màu trắng, chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy để xử lý theo vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKSKT ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt: Lê Thế H mức án từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập kinh tế ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
  • Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • + Tịch thu tờ tiền mệnh giá 2.000đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì có dấu niêm phong số 686MT-A/PC09 (bên trong có 1,57gam Ketamine và 2,03gam MDMA, cùng vỏ bao mẫu vật); 01 phong bì có dấu niêm phong số 686MT-B/PC0901; 01 chiếc khẩu trang màu trắng.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, bị cáo đồng ý và không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng tỏ ra ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Hồi 22 giờ 50 phút ngày 04/6/2024, tại trục đường thôn Đ, xã Đ và nhà của mình ở thôn Đ, xã Đ, huyện K, Lê Thế H cất giấu trái phép 2,66gam ma túy loại MDMA và 2,05gam ma túy loại Ketamine, để sử dụng thì bị bắt giữ. Do chất ma túy Ketamine và MDMA không được quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên việc tính tổng khối lượng hai chất ma túy này được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ như sau: Tỷ lệ % về khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu đối với Ketamine được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 249 là 10,2% (2,05gam so với 20 gam). Tỷ lệ % về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu đối với MDMA được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 là 53,2% (2,66gam so với 05 gam). Cộng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất Ketamine và MDMA là: 10,2% + 53,2% = 63,4% (thuộc trường hợp dưới 100%). Như vậy, tổng khối lượng của 02 chất Ketamine và MDMA thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo Lê Thế H bị xét xử tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Đánh giá tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây nên tệ nạn ma túy. Cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo; đồng thời để phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Tờ tiền mệnh giá 2.000đồng bị cáo dùng để gói ma túy, cần tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước. 01 phong bì có dấu niêm phong số 686MT-A/PC09 (bên trong có 1,57gam Ketamine và 2,03gam MDMA, cùng vỏ bao mẫu vật); 01 phong bì có dấu niêm phong số 686MT-B/PC0901; 01 chiếc khẩu trang màu trắng; cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Trong vụ án này, Cơ quan điều tra chưa xác định được tên tuổi địa chỉ của người phụ nữ bán ma túy cho H, nên tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Lê Thế H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Thế H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/6/2024.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Tờ tiền mệnh giá 2.000đ (Hai nghìn đồng).

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì có dấu niêm phong số 686MT-A/PC09 (bên trong có 1,57gam Ketamine và 2,03gam MDMA, cùng vỏ bao mẫu vật); 01 phong bì có dấu niêm phong số 686MT-B/PC0901; 01 chiếc khẩu trang màu trắng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy).

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Kiến Thụy;
  • - Công an huyện Kiến Thụy;
  • - Trại tạm giam Hải Phòng;
  • - Phòng PV06 + PC10 Công an Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Thụy;
  • - Sở tư pháp;
  • - Ủy ban nhân dân xã Đại Hợp;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngà

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Lượng

Đặng Thị Đôi

Phạm Thị Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 44/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thế H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger