|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày 23 - 07 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Chí Thanh.
Bà Lừ Thị Hiền.
- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Lâm Tới - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vì Lao T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1969 tại: huyện Y, tỉnh Sơn La.
Nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vì Lao V (đã chết) và bà Phàng Thị M (đã chết); bị cáo có vợ và 05 con. Con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 2006.
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 24/01/2019 Tòa án nhân dân huyện Yên Châu áp dụng khoản 1 Điều 249, s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Vì Lao Trư 18 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, miễn án phí HSST. Vì Lao Trư chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/3/2020 (Đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 12/3/2024 tại bản Pom Khốc, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La tổ công tác Công an xã C, huyện Y phối hợp với Đồn Biên phòng C - BĐBP tỉnh S tiến hành tuần tra tuyến đường từ bản P, xã C, huyện Y đi bản T, xã C, huyện M thì phát hiện Vì Lao T, sinh năm: 1969 - Trú tại: Bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La có biểu hiện nghi vấn. Quá trình làm việc với tổ công tác, Vì Lao Trư nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nên đã tự giác lấy trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 02 viên nén màu hồng nghi là M1 giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.
Ngày 12/3/2024 Cơ quan CSĐT công an huyện Y phối hợp với Phòng PC 09 Công an tỉnh S tiến hành cân tịnh và xác định khối lượng số ma túy thu giữ của Vì Lao Trư tổng khối lượng là 0,18 gam. Lấy 01 viên nén có khối lượng 0,09 gam ký hiệu T bàn giao cho Phòng K- Công an tỉnh S để giám định chất ma túy, loại ma túy. Còn lại 01 viên nén có khối lương 0,09g ký hiệu K nhập kho vật chứng.
Tại bản Kết luận giám định, số: 679/KLMT ngày 13/3/2024 của Phòng K (P) – Công an tỉnh S kết luận: 01 mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là T = 0,09 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,18 gam; loại Methamphetamine .
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Vì Lao T khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 12/3/2024, Vì Lao T mang theo số tiền 30.000 đồng một mình đi bộ từ nhà tại bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La đến khu vực biên giới V1- Lào giáp ranh giữa bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La với bả Huổi Ngậm CHDCND Lào để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực biên giới, T gặp một người đàn ông dân tộc Mông, quốc tịch Lào, T không biết tên, tuổi, địa chỉ đang đứng ở ven đường, T hỏi người đàn ông có ma túy bán không? Người đàn ông dân tộc M2 nói có và hỏi T muốn mua bao nhiêu tiền? Trư đưa cho người đàn ông, dân tộc Mông 30.000 đồng, người đàn ông nhận tiền và lấy trong túi áo ra 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa 03 viên Methamphetamine đưa cho T. Nhận được ma túy, Vì Lao T ngồi ở ven đường lấy 01 viên Methamphetamine ra để sử dụng bằng hình thức đốt, hít. Số ma túy còn lại, T gói vào mảnh nilon màu trắng ban đầu rồi cất giấu trong túi áo khoác bên trái đang mặc và đi bộ quay về theo đường cũ khi đến bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La thì bị Tổ công tác Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKSYC ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Châu để xét xử bị cáo Vì Lao T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
3
Tại phiên tòa bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, thống nhất với lời khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố.
Tại phiên toà kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vì Lao T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 16 tháng đến 20 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015 tịch thu tiêu hủy vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi “Vật chứng vụ: Vì Lao T, Tàng trữ trái phép chất ma túy. Niêm phong hồi 16 giờ 25 ngày 12 tháng 3 năm 2024 tại Phòng K (PC09) Công an tỉnh S. Gồm có: 01 mảnh nilon màu trắng + 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mẫu K = 0,09 gam”. Mặt sau dán giấy niêm phong do Công an tỉnh S phát hành.
Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với Bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
4
[2] Về tình tiết định tội định khung hình phạt:
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 12/03/2024, biên bản niêm phong vật chứng ngày 12/03/2024, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 12/03/2024, Kết luận giám định số 679/KL-KTHS ngày 13/03/2024, các biên bản ghi lời khai nhận của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội, biên bản lấy lời khai của người chứng kiến, và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 12/3/2024 Vì Lao Trư có hành vi cất giấu trái phép 0,18 gam Methamphetamine mục đích để bản thân sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Y làm nhiệm vụ tại bản Pom Khốc, xã C, huyện Y phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức phạt tù từ 01 đến 05 năm.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu truy tố và Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xét xử bị cáo Vì Lao Trư là chính xác, đúng người, đúng tội, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Tại thời điểm thực hiện hành vi của mình bị cáo đã có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng sức khỏe con người, suy kiệt nòi giống, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác như trộm cắp, cướp của, giết người.. Nên cần xử lý nghiêm bị cáo bằng hình phạt để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Song để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho nhu cầu nghiện hút ma túy của mình.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Không có tiền án, tiền sự.
5
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Ngày 24/01/2019 Tòa án nhân dân huyện Yên Châu áp dụng khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Vì Lao T 18 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, miễn án phí HSST. Vì Lao Trư chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/3/2020 (Đã được xóa án tích).
Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết pháp luật. Đã 01 lần bị Tòa án xử phạt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng sau khi chấp hành hình phạt không ăn năn hối cải, lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để có mức án phù hợp, tương xứng, nhằm nghiêm khắc trừng phạt, cải tạo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 quy định, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị lớn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Đối với số ma tuý và vật chứng liên quan bao gồm: “Vật chứng vụ: Vì L, Tàng trữ trái phép chất ma túy. Niêm phong hồi 16 giờ 25 ngày 12 tháng 3 năm 2024 tại Phòng K (PC09) Công an tỉnh S. Gồm có: 01 mảnh nilon màu trắng + 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mẫu K = 0,09 gam”. Mặt sau dán giấy niêm phong do Công an tỉnh S phát hành, xét thấy đây là những vật cấm tàng trữ và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
[7] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông dân tộc M2, bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể của người này, nơi trao đổi mua bán ma túy chỉ diễn ra tại khu vực biên giới chỉ có Trư và người đàn ông dân tộc Mông đó biết nên cơ quan CSĐT Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo
6
quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại điều 331, 332 BLTTHS 2015.
[10] Thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo dưới 45 ngày, cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 BLTTHS 2015.
[11] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Vì Lao T (Tên gọi khác: Không) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vì Lao T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định, và các vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi “Vật chứng vụ: Vì Lao Trư, Tàng trữ trái phép chất ma túy. Niêm phong hồi 16 giờ 25 ngày 12 tháng 3 năm 2024 tại Phòng K (PC09) Công an tỉnh S. Gồm có: 01 mảnh nilon màu trắng + 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mẫu K = 0,09 gam”. Mặt sau dán giấy niêm phong do Công an tỉnh S phát hành.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 44/BB-CCTHADS ngày 27/6/2024 giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Lao T .
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 23/7/2024./.
7
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Thị Thanh Huyền |
8
9
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vì Lao T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
