Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 44/2024/HS -ST

Ngày: 23 - 05 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Đức Ngọc

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Minh Nguyệt

Bà Trần Bích Thủy

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Bích Loan, Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 08/2024/HSST ngày 02 tháng 02 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST- HS ngày 17/03/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/HSST- QĐ ngày 17/4/2024, đối với các bị cáo:

1. Lê Anh Q, sinh năm 1995; ĐKHKTT và chỗ ở: Số A đường P, T, phường V, thị xã S, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa lớp 09/12. Con ông: Lê Văn B; Con bà: Khuất Thị L; Vợ: Đỗ Hồng N; Có 01 con, sinh năm 2022.

Nhân thân: Năm 2012 bị Công an phường P xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị bắt tạm giữ từ ngày 07/09/2023 đến ngày 10/9/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trúi; có mặt tại phiên toà.

2. Đinh Mạnh C, sinh năm 1999; ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố số D, thị trấn P, huyện P, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12. Con ông: Đinh Văn T; Con bà: Lưu Thị P; Vợ, con chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 07/09/2023 đến ngày 10/9/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trúi; có mặt tại phiên toà.

Bị hại:

  • + Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1998; Địa chỉ: Số B ngõ L, phường N, thị xã S, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
  • + Chị Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1999; Địa chỉ: Tổ A phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; vắng mặt.
  • + Anh Trần Văn H2, sinh năm 1999; Địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường D, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
  • + Chị Phạm Minh N1, sinh năm 1998; Địa chỉ: Số B N, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội. vắng mặt.
  • + Anh Dương Ngọc T1, sinh năm 1990; Địa chỉ: P tòa H1 HUD3, F N, phường T, quận H, TP Hà Nội. vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 01/2023, Lê Anh Q nảy sinh ý định lừa đảo trên mạng xã hội bằng hình thức làm thẻ tín dụng ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản, tiêu xài cá nhân. Lê Anh Q đã chuẩn bị những công cụ, phương tiện; tài khoản facebook, zalo, tài khoản ngân hàng để phục vụ cho hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản, gồm:

  • - 01 (Một) máy dập chữ nổi 3D kèm theo nhiều phôi thẻ bằng nhựa do Q mua cũ với giá 5.000.000 đồng trên mạng của một người đàn ông không quen biết tại quận Đ và quận H, TP Hà Nội.
  • - 01 (Một) chiếc điện thoại Xiaomi Redmi màu đen do Q mua cũ với giá 500.000 đồng trên mạng của một người không quen biết tại quận C, TP Hà Nội.
  • - 01 (Một) chiếc điện thoại V-Smart màu xanh do Q mua cũ với giá 1.000.000 đồng trên mạng của một người khác, không quen biết tại quận C, TP Hà Nội.
  • - Nhiều tài khoản Facebook, Z ảo do Q sử dụng sim điện thoại “rác”, không chính chủ để đăng ký hoặc do Q tìm mua các tài khoản có sẵn, nhiều lượt tương tác được rao bán trên mạng, của những người không quen biết.

Ngày 13/01/2023, Lê Anh Q đã gặp anh Nguyễn Đăng T2, sinh ngày: 08/12/2007, trú tại: 1 phố T, phường V, thị xã S đặt vấn đề nhờ T2 sử dụng CCCD số: [...] của T2 và số điện thoại: 0837.261.xxx của Q để mở tài khoản thanh toán cho Q sử dụng. T2 đồng ý, sau đó T2 và Q đã đến Ngân hàng T6- Chi nhánh thị xã S, mở tài khoản thanh toán số: 19039708715012 mang tên Nguyễn Đăng T2. Sau khi xong, Q cảm ơn T2 200.000đ và Q toàn quyền sử dụng số tài khoản ngân hàng này. T2 nhận 200.000đ và không sử dụng, không không biết Q sử dụng tài khoản ngân hàng này vào mục đích gì.

Sau khi có được tài khoản ngân hàng của anh Nguyễn Đăng T2, Lê Anh Q mua 01 tài khoản ngân hàng khác với giá 400.000 đồng của một người thanh niên không quen biết trên mạng xã hội. Tài khoản thanh toán có số: 625391 mang tên Phạm Bùi Thảo L1, do chị Phạm Bùi Thảo L1, sinh ngày 25/6/2002, trú tại: Thôn B, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình đăng ký mở tài khoản online vào ngày 04/01/2023 tại Ngân hàng A1 Chi nhánh H3.

Sau khi đã chuẩn bị xong, Lê Anh Q đã rủ Đinh Mạnh C, sinh năm 1999; trú tại tổ dân phố số D, thị trấn P, huyện P, thành phố Hà Nội cùng tham gia hoạt động. Q và C thỏa thuận với nhau về vai trò, nhiệm vụ và phương thức, thủ đoạn cụ thể như sau:

Lê Anh Q là người làm chủ, Đinh Mạnh C là người làm thuê, Q giao cho C sử dụng chiếc điện thoại Xiaomi Redmi màu đen, đăng nhập vào các tài khoản facebook như: “Nguyễn Đăng T2”, “Tài N2”, “Thảo L1”, “Kiều Quỳnh N3”, “Nguyễn Hải Y”, “My My”, “Hồ Trà M”, “Thùy Chi”, “Mỹ Tiên”, “Hoàng Thái L2”, “Linh Bông”, “Hồ Hà M1”....; các tài khoản Zalo như: “Nguyễn Đăng T2”, “Tài N2”, “Trường MB".... Tham gia vào các hội nhóm tín dụng, làm thẻ tín dụng, đăng bài quảng cáo sai sự thật, hỗ trợ khách hàng mở thẻ tín dụng nhanh gọn, không cần chứng minh thu nhập, kể cả nợ xấu...để câu view, thu hút những người đang khó khăn về tài chính, có nhu cầu mở thẻ tín dụng.

Sau khi có khách liên lạc, C giả danh là cộng tác viên của Ngân hàng Q1 (M2), yêu cầu khách chụp, gửi ảnh căn cước công dân, ảnh chân dung để làm thẻ với chi phí là 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng và 5% số tiền hạn mức thẻ tín dụng. Nếu khách đồng ý, Q sẽ dùng máy dập chữ, dập thông tin họ tên cùng số thẻ giả lên phôi thẻ tín dụng MB-Bank rồi chụp ảnh gửi cho khách xem, khiến khách tin tưởng là đã làm được thẻ tín dụng. Lúc này, Q và C yêu cầu khách phải chuyển 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng T6 số 19039708715012 mang tên Nguyễn Đăng T2 hoặc tài khoản ngân hàng A1 số: 625391 mang tên Phạm Bùi Thảo L1 để nhận thẻ trước, khi nào nhận được thẻ thì khách mới phải chuyển nốt 5% số tiền hạn mức thẻ tín dụng cho các đối tượng. Tuy nhiên, ngay sau khi nhận được tiền do khách hàng chuyển, Q và C không gửi thẻ về cho khách mà lập tức chặn Facebook, zalo, không liên lạc nhằm tránh bị phát hiện và chiếm đoạt luôn số tiền mà những người khách này đã chuyển.

Với phương thức và thủ đoạn trên trong thời gian từ tháng 01/2023 đến tháng 05/2023, Lê Anh Q và Đinh Mạnh C khai nhận đã có hành vi lừa đảo 16 người bị hại, chiếm đoạt tổng số tiền: 20.755.555 đồng, thể hiện qua 21 giao dịch ngân hàng khác nhau. Trong đó Cơ quan điều tra đã làm rõ được 05 bị hại, cụ thể như sau:

1. Ngày 01/4/2023, chị Phạm Minh N1, sinh ngày 20/11/1998, nơi đăng ký HKTT tại: 2 N, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội, thấy bài đăng quảng cáo dịch vụ làm thẻ tín dụng thủ tục nhanh gọn trên facebook. Do đang có nhu cầu mở thẻ tín dụng 100.000.000 đồng nên chị N1 đã chủ động liên lạc và được Đinh Mạnh C (tự giới thiệu tên là T3 - Nhân viên Ngân hàng M3) hướng dẫn, yêu cầu gửi ảnh CCCD, ảnh chân dung và thông tin địa chỉ nhà ở để nhân viên đến thẩm định. Sau khoảng 03 ngày sẽ làm xong và gửi thẻ về nhà. Chị N1 đồng ý. Đến buổi chiều cùng ngày 01/4/2023, Lê Anh Q gọi điện thoại cho chị Phạm Minh N1 (tự giới thiệu tên là T2 - Nhân viên thẩm định hồ sơ của Ngân hàng M3) yêu cầu đến nhà, nơi làm việc để thẩm định hồ sơ. Q nói nếu muốn bỏ qua bước thẩm định hồ sơ thì chị N1 phải chuyển chi phí 500.000 đồng. Chị N1 đồng ý, đã chuyển 500.000₫ từ tài khoản ngân hàng M3 số: 5550128678888 của mình đến tài khoản ngân hàng A1 số: 6252391 mang tên Phạm Bùi Thảo L1 do Q sử dụng. (Bút toán có diễn giải “##Phi the mb GD 641479-040123 09:24:56).

Khoảng 10 ngày sau, Lê Anh Q sử dụng máy dập chữ nổi, dập họ và tên chủ thẻ “PHAM MINH NGỌC” rồi chụp ảnh gửi cho C, C gửi ảnh cho chị N1, khiến chị N1 tin tưởng rằng đã làm được thẻ tín dụng. C yêu cầu chị N1 phải chuyển chi phí dịch vụ 5% của hạn mức thẻ tín dụng, là 5.000.000 đồng thì C mới chuyển thẻ cho chị N1.

Chị N1 đã sử dụng ứng dụng của ngân hàng M3, kiểm tra số thẻ dập trên thẻ tín dụng trong ảnh mà C đã làm cho chị N1 nhưng không thấy có thẻ trên hệ thống của Ngân hàng M3. Nghi ngờ bị lừa đảo nên chị N1 không đồng ý chuyển tiền trước mà yêu cầu gặp trực tiếp để đưa tiền và nhận thẻ. Tuy nhiên, do sợ bị phát hiện nên Lê Anh Q và Đinh Mạnh C từ chối gặp trực tiếp, không gửi thẻ cho chị N1 và chặn tài khoản facebook, zalo, số điện thoại của chị N1.

2. Ngày 07/4/2023, anh Dương Ngọc T1, sinh năm: 1990, nơi đăng ký HKTT tại: Phòng 2101 Tòa H1 HUD3, F N, phường T, quận H, thành phố Hà Nội, thấy bài viết quảng cáo dịch vụ làm thẻ tín dụng nhanh, không cần chứng minh thu nhập nên anh T1 đã liên lạc và được hướng dẫn kết bạn với tài khoản zalo “Trường M4” do Đinh Mạnh C sử dụng. Qua trao đổi, anh T1 có nhu cầu làm thẻ tín dụng hạn mức 200.000.000 đồng thì C đồng ý, yêu cầu anh T1 phải chuyển trước chi phí 1.000.000 đồng để được duyệt hồ sơ. Anh T1 đồng ý, đã chuyển 1.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V số: [...] của mình đến tài khoản ngân hàng T6 số: 19039708715012 mang tên Nguyễn Đăng T2 do Q sử dụng. (Bút toán FT23097131873412\BNK, T4 lam the 200 M5). Khoảng 02 ngày sau, Lê Anh Q gọi điện cho anh T1 nói nếu muốn làm thẻ tín dụng nhanh thì phải chuyển chi phí 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, anh T1 nghi ngờ bản thân bị lừa đảo nên không đồng ý chuyển tiền. Lê Anh Q và Đinh Mạnh C thấy vậy cũng không dập thẻ cho anh T1; chặn facebook, zalo, số điện thoại của anh T1.

3. Ngày 10/4/2023, do cần tiền giải quyết công việc cá nhân nên khi anh Trần Văn H2, sinh năm 1999, nơi đăng ký HKTT tại: TDP Q, phường D, quận H, thành phố Hà Nội, tìm dịch vụ mở thẻ tín dụng thủ tục nhanh gọn trên mạng xã hội thì thấy bài viết quảng cáo của Lê Anh Q, Đinh Mạnh C đăng tải trên facebook. Sau khi liên hệ thì anh H2 được hướng dẫn kết bạn với tài khoản zalo “Trường MB” do Đinh Mạnh C sử dụng. Anh H2 có nhu cầu mở thẻ tín dụng hạn mức 50.000.000 đồng; anh C đồng ý và yêu cầu anh H2 phải gửi ảnh CCCD, ảnh chân dung cùng số tiền 500.000 đồng tiền bồi dưỡng uống nước và chi phí dịch vụ duyệt hồ sơ nhanh. Anh H2 đồng ý, gửi ảnh CCCD, ảnh chân dung và chuyển 555.555 đồng từ tài khoản ngân hàng T6 số: 8166886688 của mình đến tài khoản ngân hàng T6 số: 19039708715012 mang tên Nguyễn Đăng T2 do Q sử dụng. (Bút toán FT23100931141130\BNK, Em gui a cafe).

Khoảng 02 ngày sau, Lê Anh Q sử dụng máy dập chữ nổi, dập họ và tên chủ thẻ là “TRAN VAN HUNG” lên 01 phôi thẻ M3 rồi chụp ảnh gửi cho C; C gửi ảnh cho anh H2 nhằm tạo sự tin tưởng và yêu cầu anh H2 phải chuyển số tiền 5% hạn mức thẻ tín dụng là 2.500.000 đồng để được nhận thẻ. Anh Trần Văn H2 nghi ngờ bị lừa đảo nên không đồng ý và không chuyển tiền nữa. Lê Anh Q, Đinh Mạnh C biết vậy nên đã chặn facebook, zalo, số điện thoại liên lạc của anh H2.

4. Ngày 20/4/2023, khi đang lướt facebook thì chị Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1999, nơi đăng ký HKTT tại: Tổ A phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, thấy bài đăng có nội dung: “Làm thẻ tín dụng chỉ cần CCCD”; do đang có nhu cầu làm thẻ tín dụng 100.000.000 đồng nên chị H1 đã chủ động liên hệ với Z “Trường MB” do Đinh Mạnh C sử dụng. C đã hướng dẫn chị H1 gửi ảnh CCCD và ảnh chân dung, đồng thời yêu cầu chuyển khoản 500.000đ đến 1.000.000₫ chi phí để làm hồ sơ, sau khi mở thẻ xong thì sẽ phải trả thêm 5% hạn mức thẻ là 5.000.000đ. Chị H1 đồng ý, đã gửi ảnh CCCD và ảnh chân dung, đồng thời chuyển 500.000đ từ tài khoản ngân hàng M3 số 7800100808888 của mình đến tài khoản ngân hàng T6 số 19039708715012 mang tên Nguyễn Đăng T2 do Q sử dụng. (Bút toán FT23110000929294\BNK PHAM THU HIEN chuyen khoan).

Ngày 26/4/2023, Lê Anh Q dùng máy dập chữ nổi, dập nổi họ và tên chủ thẻ là “NGUYEN THU HIEN” lên 01 phôi thẻ M3 rồi chụp ảnh gửi cho C, C gửi cho chị H1 để tạo sự tin tưởng, khiến chị H1 nghĩ rằng đã làm được thẻ tín dụng. Sau đó, C yêu cầu chị H1 chuyển 5% hạn mức thẻ tín dụng là 5.000.000 đồng nhưng chị H1 không đồng ý. C lại yêu cầu chuyển trước 50% của 5.000.000 đồng là 2.500.000 đồng vào tài khoản ngân hàng A1 số 6252391 mang tên Phạm Bùi Thảo L1, còn lại 2.500.000đ khi nào nhận được thẻ thì trả sau. Chị H1 đồng ý nhưng chỉ chuyển 2.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng M3 số: 7800100808888 của mình đến tài khoản ngân hàng A1 số 6252391 mang tên Phạm Bùi Thảo L1 do Q sử dụng. (Bút toán ##PHAM THU HIEN chuyen khoan GD 866061-042623 10:13:56).

Ngay sau khi nhận được tổng số tiền 2.500.000đ của chị Phạm Thu H1, Q và C đã chặn facebook, zalo của chị H1, không gửi thẻ tín dụng cho chị H1.

5. Ngày 19/5/2023, chị Nguyễn Thị Hồng T5, sinh năm 1998, nơi đăng ký HKTT tại: 29 ngõ L, phường N, thị xã S, đang sử dụng facebook thì thấy có bài viết quảng cáo về việc hỗ trợ làm thẻ tín dụng nhanh, kể cả nợ xấu, do có nhu cầu mở thẻ tín dụng để rút tiền chi tiêu cá nhân nên chị T5 đã liên hệ qua facebook với Đinh Mạnh C thì được C hướng dẫn kết bạn với zalo “Nguyễn Đăng T2”. Qua nói chuyện trao đổi nội dung, chị T5 có nhu cầu mở thẻ tín dụng với hạn mức 100.000.000 đồng. C hướng dẫn chị T5 chụp ảnh CCCD và ảnh chân dung để làm thủ tục, đồng thời yêu cầu chị T5 phải chuyển khoản 1.000.000 đồng chi phí làm thẻ vào tài khoản ngân hàng T6 số: 19039708715012 mang tên Nguyễn Đăng T2, sau khi mở thẻ xong thì sẽ phải trả thêm 5% hạn mức thẻ tín dụng là 5.000.000 đồng.

Chị T5 đồng ý, nhưng do không muốn bị lộ thông tin cá nhân, nên chị T5 đã truy cập vào một nhóm “tìm kiếm, xin việc làm” trên ứng dụng Telegram, tìm và tải ảnh CCCD, ảnh chân dung của chị Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh năm 1990, nơi đăng ký HKTT tại: G N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa rồi gửi cho C để làm thẻ tín dụng, đồng thời chuyển 1.000.000đ từ tài khoản ngân hàng T6 số: 19034221171015 của mình đến tài khoản ngân hàng T6 số: 19039708715012 mang tên Nguyễn Đăng T2 do Q sử dụng. (Bút toán F)

Ngày 20/5/2023, Q lấy máy dập chữ nổi, dập họ và tên chủ thẻ “NGUYEN THI QUYNH ANH” lên 01 phôi thẻ MB rồi chụp ảnh gửi cho C, C gửi cho chị T5 và yêu cầu chị T5 chuyển nốt 5% hạn mức thẻ tín dụng là 5.000.000 đồng. Chị T5 không đồng ý và chỉ chuyển 1.100.000 đồng từ tài khoản ngân hàng T6 số: 19034221171015 của mình đến tài khoản ngân hàng T6 số: 19039708715012 mang tên Nguyễn Đăng T2 do Q sử dụng. (Bút toán FT23140548032479\BNK Nguyen Thi Quynh Anh the tin dung mb 100tr).

Ngay sau khi nhận được tổng số tiền 2.100.000 đồng của chị Nguyễn Thị Hồng T5, Q và C đã chặn facebook, zalo của chị T5; không gửi thẻ tín dụng cho chị T5. Đến khoảng ngày 27/4/2023 do muốn làm công việc ổn định nên C nói với Q xin nghỉ làm và trả lại Q chiếc điện thoại Redmi màu đen bên trong lắp sim số 0837261323. Sau đó Q tháo sim 0837261323 lắp vào máy điện thoại Vsmart màu xanh. Chiếc điện thoại Redmi Quân mang đi bán. Đến khoảng đầu tháng 6/2023 lo sợ bị phát hiện nên Q cũng không lừa đảo nữa. Q vứt bỏ chiếc máy dập chữ nổi xuống Sông M. Riêng chiếc điện thoại Vsmart màu xanh có lắp hai sim gồm sim số 0978273410 và sim số 0837261323 thì Q cất giấu trong tủ quần áo ở phòng ngủ tầng hai của vợ chồng Q, địa chỉ ở 1 phố T, phường V, thị xã S, thành phố Hà Nội.

Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ:

  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh, kiểu máy: Joy4, Imei 1: 351088467729059, Imei 2: 351088467729067, máy lắp 02 sim gồm sim 1: 0837.261.323, sim 2: 0978.273.410, máy đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) thẻ ngân hàng B1, trên thẻ có dãy số: 9704180098967896 mang tên Lê Anh Q.
  • - 01 (một) thẻ ngân hàng V1, trên thẻ có dãy số: 9704368620344271019 mang tên Lê Anh Q
  • - 01 (một) thẻ ngân hàng T6, trên thẻ có dãy số: 9704078831623737, mang tên Lê Anh Q.+

Ngày 09/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã có Thông báo số: 618/TB-CQĐT truy tìm người bị hại trong vụ án, đăng tải lên các phương tiện thông tin, truyền thông, đề nghị Công an các tỉnh, thành phố trên cả nước phối hợp truy tìm người bị hại. Đến nay, không có cá nhân, cơ quan tổ chức nào liên hệ trình báo, cung cấp thông tin, nội dung liên quan đến vụ án mà Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đang thụ lý.

Ngoài 05 bị hại trên còn có 11 trường hợp khác Cơ quan điều tra chưa xác minh làm rõ được với bị hại nên chưa xác định được hành vì lừa đảo của Lê Anh Q và Đinh Mạnh C gồm:

Bốn người bị hại chưa xác định được nhân thân lai lịch, không lấy được lời khai người bị hại, chỉ có lời khai một phía của Lê Anh Q, Đinh Mạnh C và tài liệu sao kê tài khoản ngân hàng, với tổng số tiền là 2.700.000 đồng, thể hiện qua 06 giao dịch ngân hàng; 03 bị hại đã rõ nhân thân, địa chỉ, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng 3 người này không có mặt ở nơi cư trú nên chưa làm việc, chưa lấy được lời khai; 04 người bị hại chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ do chưa nhận kết quả trả lời của Hội sở T6; Ngân hàng A1, chưa nhận được kết quả trả lời ủy thác điều tra của Cơ quan CSĐT Công an quận G, Cơ quan CSĐT Công an quận A2, thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 16/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã ra Quyết định số: 150/QĐ-CQĐT tách hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Lê Anh Q, Đinh Mạnh C đối với 11 người bị hại nêu trên và toàn bộ tài liệu liên quan, lập hồ sơ tiếp tục xác minh, giải quyết nguồn tin về tội phạm. Khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Đăng T2 là người được Lê Anh Q nhờ mở tài khoản thanh toán Ngân hàng T6 số: 19039708715012 để Q sử dụng làm công cụ phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, sau khi mở tài khoản xong, Q là người toàn quyền sử dụng, anh T2 không sử dụng, không liên quan và không biết Q sử dụng vào mục đích gì. Vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với T2.

Đối với chị Phạm Bùi Thảo L1 là chủ tài khoản thanh toán Ngân hàng A1 số: 6252391 mà Lê Anh Q đã mua trên mạng qua một người không quen biết để sử dụng làm công cụ phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, quá trình xác minh không xác định được hiện nay chị Phạm Bùi Thảo L1 đang sinh sống, làm việc tại đâu; không xác định được người đã bán thông tin tài khoản của chị Thảo L1 cho Q là ai, ở đâu nên không có căn cứ để xác minh, xử lý đối với chị Phạm Bùi Thảo L1 và người này.

Đối với chị Nguyễn Thị Hồng T5 đã sử dụng hình ảnh chân dung, CCCD của chị Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh ngày 16/9/1990, nơi đăng ký HKTT tại: G N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa để đăng ký mở thẻ tín dụng. Tuy nhiên, quá trình xác minh không xác định được hiện nay chị Nguyễn Thị Quỳnh A đang sinh sống, làm việc tại đâu, không xác định được mối quan hệ giữa hai người nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Đối vơi 01chiếc điện thoại Redmi màu đen, Q đã bán cho người không quen biết và 01chiếc máy dập chữ nổi Q mua của người không quen biết sau khi dùng xong Q đã vứt bỏ tại khu vực Sông M, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được nên không có cơ sở để xác minh làm rõ.

Về dân sự: Các bị hại gồm các anh, chị: Phạm Thị Thu H1, Nguyễn Thị Hồng T5, Phạm Minh N1, Dương Ngọc T1, Trần Văn H2 đề nghị Cơ quan CSĐT Công an thị xã S điều tra làm rõ và yêu cầu Lê Anh Q, Định Mạnh C1 bồi thường theo đúng quy định của Pháp luật.

Vật chứng:

  • - 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu xanh, kiểu máy Joy4, số Imei 1: 351088467729059, số Imei 2: 351088467729067, bên trong lắp sim số 1: 0837261323 và sim số 2: 0978273410, hiện trạng đã qua sử dụng.
  • - 01điện thoại nhãn hiệu Iphone XR màu đen, số Imei 1: 356444103371167, số Imei 2: 356444103346029, bên trong lắp sim số 0357651881, hiện trạng đã qua sử dụng.
  • - 01 Iphone 7 plus màu đen, số I: 355357087078700, bên trong lắp sim số 0814141413, hiện trạng đã qua sử dụng.
  • - 01 thẻ ngân hàng B1, trên thẻ có dãy số 9704180098967896 mang tên Lê Anh Q.
  • - 01 thẻ ngân hàng V1, trên thẻ có dãy số 9704368620344271019 mang tên Lê Anh Q.
  • - 01 thẻ ngân hàng T6, trên thẻ có dãy số 9704078831623737 mang tên Lê Anh Q. Chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây để xử lý theo quy định của pháp luật

Bản cáo trạng số 07/CT- VKS ngày 01 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố Lê Anh Q và Đinh Mạnh C về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà các bị cáo đã thực hiện. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội, tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố các bị cáo Lê Anh Q và Đinh Mạnh C “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Lê Anh Q từ .... đến .... tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày thi hành án, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/09/2024 đến ngày 10/09/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Đinh Mạnh C từ .... đến ...... tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ tháng đến tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Lê Anh Q và Đinh Mạnh C phải liên đới bồi thường cho 05 bị hại với tổng số tiền là 6.655.555 đồng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiều hủy 01 thẻ ngân hàng B1, trên thẻ có dãy số 9704180098967896 mang tên Lê Anh Q; 01 thẻ ngân hàng V1, trên thẻ có dãy số 9704368620344271019 mang tên Lê Anh Q; 01 thẻ ngân hàng T6, trên thẻ có dãy số 9704078831623737 mang tên Lê Anh Q.

Tịch thu phát mại sung công 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu xanh, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XR màu đen, 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo và lời khai của những bị hại tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Lê Anh Q và Đinh Mạnh C không phải là nhân viên của ngân hàng Q1 (MB -), không có chức năng tư vấn mở thẻ tín dụng của ngân hàng M3 online với lãi xuất thấp, nhưng đã đưa ra thông tin sai sự thật để 5 bị hại tin và chuyển tiền phí làm thẻ tín dụng ngân hàng M3 online cho Lê Anh Q và Đinh Mạnh C với tổng số tiền là 6.655.555₫.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã lợi dụng danh nghĩa ngân hàng M2, xâm phạm đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng trong hoạt động mở thẻ ngân hàng O. Các bị cáo đều là thanh niên còn trẻ, bản thân không chịu lao động, tu dưỡng rèn luyện, vì muốn có tiền chi tiêu nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, nên cần có hình phạt nghiêm đối với các bị cáo.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét vai trò của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo không có sự bàn bạc phân công chặt chẽ nên là đồng phạm giản đơn. Trong vụ án bị cáo Lê Anh Q có vai trò tích cực hơn, Q là người chủ động chuẩn bị những công cụ, phương tiện, tài khoản facebook, zalo, tài khoản ngân hàng để thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo Q và C đều thực hiện lừa 05 người bị hại, chiếm đoạt tổng số tiền 6.655.555₫. Bị cáo Đinh Mạnh C là người được Q rủ làm thuê cho Q nên C có vai trò thấp hơn; Mặc dù, C cùng Q tham gia lừa 05 người bị hại nhưng tổng giá trị tài sản chiếm đoạt ít hơn Q. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt đối với Lê Anh Q cao hơn Đinh Mạnh C.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Anh Q và Đinh Mạnh C phạm tội nhiều lần thuộc điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lê Anh Q và Đinh Mạnh C đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đã tự nguyện nộp tiền để khắc phục hậu quả. Nhân thân bị cáo Q năm 2012 bị xử phạt hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng; Các bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly các bị cáo Q ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tiếp tục cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo Đinh Mạnh C phạm tội do bị Q rủ rê làm thuê cho Q, số tiền chiếm đoạt được chia ít hơn Q; Bị cáo C có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự có nơi cư trú rõ ràng, nên Hội đồng xét xử xét áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo cũng đủ để giáo dục đối với bị cáo.

[4] Về dân sự: Buộc bị cáo Lê Anh Q và Đinh Mạnh C phải liên đới bồi thường cho 05 bị hại với tổng số tiền là 6.655.555 đồng. Cụ thể: Bị cáo Lê Anh Q bồi thường cho anh Dương Ngọc T1 số tiền 1.000.000đ; anh Trần Văn H2 555.555đ; chị Nguyễn Thị H số tiền: 2.100.000đ. Tổng cộng 3.655.555đ. Xác nhận bị cáo Q đã nộp 3.655.555đ tại Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây ngày 14/5/2024.

Bị cáo Đinh Mạnh C phải bồi thường cho chị Phạm Minh N1 số tiền 500.000đ; bồi thường cho chị Phạm Thị Thu H1 số tiền 2.500.000đ, Tổng cộng 3.000.000đ, xác nhận bị cáo C đã nộp 3.000.000đ tại Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây ngày 27/02/2024.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng và điều kiện về kinh tế để thi hành án. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu xanh thu của Lê Anh Q, là điện thoại mà bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu phát mại xung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XR màu đen, thu của Đinh Mạnh C và 01 Iphone 7 plus màu đen, thu của Lê Anh Q. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là điện thoại của cá nhân các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo.

Đối với 01 thẻ ngân hàng B1, trên thẻ có dãy số 9704180098967896 mang tên Lê Anh Q; 01 thẻ ngân hàng V1, trên thẻ có dãy số 9704368620344271019 mang tên Lê Anh Q; 01 thẻ ngân hàng T6, trên thẻ có dãy số 9704078831623737 mang tên Lê Anh Q, những thẻ này không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Q.

Đối với 01 máy dập chữ nổi 3D kèm theo nhiều phôi thẻ bằng nhựa và 01 điện thoại Xiaomi màu đen do Q mua trên mạng của một người không quen biết, Q đã vứt bỏ máy dập chữ nổi, phôi thẻ và điện thoại nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Trong vụ án này, các bị cáo khai đã có hành vi lừa đảo 16 người, chiếm đoạt số tiền 20.755.555đ. Tuy nhiên, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xác định được 5 người là bị hại trong vụ án, với số tiền các bị cáo chiếm đoạt là 6.655.555đ. Số tiền còn lại mà các bị cáo khai chiếm đoạt của một số người khác. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng đủ căn cứ để kết luận các bị cáo có hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của những người này. Vì vậy, không đề cập xử lý trong vụ án này.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • + Xử phạt: Bị cáo Lê Anh Q 07 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày thi hành án, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/09/2024 đến ngày 10/09/2024.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • + Xử phạt: Bị cáo Đinh Mạnh C 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Giao bị cáo Đinh Mạnh C cho UBND thị trấn P, huyện P, Thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi làm việc, nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về dân sự: Buộc bị cáo Lê Anh Q và Đinh Mạnh C phải liên đới bồi thường cho 05 bị hại với tổng số tiền là 6.655.555 đồng. Cụ thể: Bị cáo Lê Anh Q bồi thường cho anh Dương Ngọc T1 số tiền 1.000.000đ; anh Trần Văn H2 555.555đ; chị Nguyễn Thị H số tiền: 2.100.000đ. Tổng cộng 3.655.555đ. Xác nhận bị cáo Q đã nộp 3.655.555đ tại Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây ngày 14/5/2024.

Bị cáo Đinh Mạnh C phải bồi thường cho chị Phạm Minh N1 số tiền 500.000đ; bồi thường cho chị Phạm Thị Thu H1 số tiền 2.500.000đ, Tổng cộng 3.000.000đ, xác nhận bị cáo C đã nộp 3.000.000đ tại Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây ngày 27/02/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu phát mại sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu xanh. Trả lại bị cáo Lê Anh Q 01 Iphone 7 plus màu đen và 01 thẻ ngân hàng B1, trên thẻ có dãy số 9704180098967896 mang tên Lê Anh Q; 01 thẻ ngân hàng V1, trên thẻ có dãy số 9704368620344271019 mang tên Lê Anh Q; 01 thẻ ngân hàng T6, trên thẻ có dãy số 9704078831623737 mang tên Lê Anh Q. Trả lại cho bị cáo Đinh Mạnh C 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XR màu đen. (Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/02/2024 giữa Công an thị xã S và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Anh Q và Đinh Mạnh C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - CA, VKSND thị xã S;
  • - CCTHADS thị xó S;
  • - Những ngời tham gia tố tụng;
  • - Lu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Hoàng Đức Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HS -ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 44/2024/HS -ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BC Q và C phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger