|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23-5-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khương Minh Trí.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Minh Lý;
- Bà Vòng Cảnh Mỹ Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Phương Huỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 43/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Mai T, sinh năm 1987; địa chỉ thường trú: 11/3, Tổ C, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1983; địa chỉ thường trú: 11/3, Tổ C, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Bùi Thị Mai T trình bày:
Bà Bùi Thị Mai T và ông Nguyễn Hoàng T1 là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42, quyển số 01/2006, cấp ngày 19/07/2006. Sau khi kết hôn, thời gian đầu hai vợ chồng sống hạnh phúc. Tuy nhiên, từ khi bà T sinh con thứ hai vào năm 2014 đến nay thì quan điểm sống hai vợ chồng không hợp nhau, phát sinh nhiều mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung giữa hai vợ, chồng, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay, bà T và ông T1 không còn chung sống với nhau, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay bà T xác định không còn tình cảm gì với ông T1 nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông T1.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà T và ông T1 có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Hoàng Bảo T2, sinh ngày 11/04/2007 và cháu Nguyễn Hoàng T3, sinh ngày 25/10/2014. Bà Bùi Thị Mai T yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung sau khi ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị Mai T không yêu cầu ông Nguyễn Hoàng T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Bùi Thị Mai T và ông Nguyễn Hoàng T1 không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kèm theo đơn khởi kiện nguyên đơn đã giao nộp bản sao các tài liệu, chứng cứ sau: Căn cước công dân đề tên bà Bùi Thị Mai T (photo); Giấy khai sinh mang tên Nguyễn Hoàng Bảo T2 và Nguyễn Hoàng T3 (bản photo có chứng thực); Giấy chứng nhận kết hôn (bản photo).
Bị đơn ông Nguyễn Hoàng T1 đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ, nhưng ông T1 không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con của bà T. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đã niêm yết hợp lệ cho bị đơn tại nơi cư trú, địa phương và tại trụ sở Tòa án theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông T1 đều vắng mặt không rõ lý do.
Tại phiên tòa:
Ngày 04/5/2025, bị đơn ông Nguyễn Hoàng T1 có đơn xin Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt bị đơn.
Ngày 21/5/2024, nguyên đơn bà Bùi Thị Mai T có đơn xin Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không thay đổi hay bổ sung yêu cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa có ý kiến: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ, đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị sửa chữa, bổ sung gì về phần thủ tục. Về nội dung, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà Bùi Thị Mai T khởi kiện tranh chấp yêu cầu được ly hôn và tranh chấp nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Hoàng T1 có địa chỉ cư trú tại phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, do đó căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
[1.2] Về sự tham gia phiên tòa của các đương sự: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về nội dung:
[2.1] Các vấn đề có tranh chấp: Bà Bùi Thị Mai T và ông Nguyễn Hoàng T1 là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42, quyển số 01/2006, cấp ngày 19/07/2006 nên quan hệ hôn nhân giữa hai người là hợp pháp theo quy định tại Điều 9, 10 và Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1 vì trong quá trình chung sống thì quan điểm hai vợ chồng không hợp nhau, phát sinh nhiều mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung giữa hai vợ, chồng; cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc; hai vợ chồng không còn chung sống với nhau, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau; mục đích hôn nhân không đạt được. Bị đơn ông T1 trong quá trình giải quyết vụ án dù được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa án làm việc, không có đơn trình bày ý kiến và không tham gia hòa giải, cùng với việc ông T1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt thể hiện ông T1 không có thiện chí trong việc muốn hàn gắn và bảo vệ hạnh phúc gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay, bà T và ông T1 đã không còn sống chung với nhau; vợ chồng đã không còn thương yêu, quan tâm chăm sóc lẫn nhau; bà T và ông T1 không có ý nguyện hàn gắn hôn nhân nên yêu cầu được ly hôn của bà T là có cơ sở, có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Bà T và ông T1 có 02 con chung trong thời kỳ hôn nhâu là cháu Nguyễn Hoàng Bảo T2, sinh ngày 11/04/2007 và cháu Nguyễn Hoàng T3, sinh ngày 25/10/2014. Bà T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung nêu trên sau khi ly hôn. Theo biên bản lấy lời khai ngày 29/3/2024 của Tòa án đối với cháu cháu Nguyễn Hoàng Bảo T2, sinh ngày 11/04/2007 và cháu Nguyễn Hoàng T3, sinh ngày 25/10/2014 thì hai cháu trình bày ý kiến muốn được sống cùng với mẹ là bà Bùi Thị Mai T khi bà T và ông T1 ly hôn. Như vậy, nguyện vọng của cháu T2 và cháu T3 cũng phù hợp với yêu cầu của bà T. Đồng thời, ông T1 không đến Tòa án làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến thể hiện yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung sau khi ly hôn. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Bảo T2, sinh ngày 11/04/2007 và cháu Nguyễn Hoàng T3, sinh ngày 25/10/2014 cho bà Bùi Thị Mai T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị Mai T không yêu cầu ông Nguyễn Hoàng T1 phải cấp dưỡng nuôi hai con chung chung là cháu Nguyễn Hoàng Bảo T2, sinh ngày 11/04/2007 và cháu Nguyễn Hoàng T3, sinh ngày 25/10/2014 sau khi ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Bùi Thị Mai T và ông Nguyễn Hoàng T1 không có tranh chấp, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Từ những nhận định trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Mai T đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng T1 về việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và tranh chấp nuôi con. Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà T phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 238; Điều 266; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Mai T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng T1.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Mai T được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng T1.
- Giấy chứng nhận kết hôn số 42, Quyển số 01/2006, cấp ngày 19/07/2006 do UBND phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Bùi Thị Mai T và ông Nguyễn Hoàng T1 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Về con chung: Bà Bùi Thị Mai T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Hoàng Bảo T2, sinh ngày 11/04/2007 và cháu Nguyễn Hoàng T3, sinh ngày 25/10/2014.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Không ai được quyền cản trở ông Nguyễn Hoàng T1 trong việc thăm nom, chăm sóc con chung.
- Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con sau này khi cần thiết.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Bùi Thị Mai T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Bùi Thị Mai T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004108 ngày 18/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo luật định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khương Minh Trí |
Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Mai T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng T1
