|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày: 23-5-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Dương Thị Bé Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Thanh Liêm.
- Ông Trần Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Sử - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024, đối với:
Bị cáo: Mai T, sinh năm 1982 tại huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai C (đã chết) và bà Mai Thị T1; bị cáo có vợ và 02 con (lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2009); tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-12-2023 đến ngày 01-01-2024 tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh A; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Chau Thị K, sinh năm 2002; nơi cư trú: Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng: Ông Đỗ Văn B, sinh năm 1982; nơi cư trú: Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
2
Những người khác được Toà án triệu tập đến phiên toà:
Người phiên dịch tiếng Khmer cho bị cáo: Ông Liêu K1 – Cán bộ hưu trí Thị trấn Ó huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 23-12-2023, Công an huyện T nhận được tin báo của nhân dân qua điện thoại tại khu vực khóm T, thị trấn Ó, huyện T có đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy. Sau đó, lực lượng Công an huyện T phối hợp với Công an thị trấn Ó đến khu vực trên phát hiện T đang điều khiển xe mô biển số 67AM-039.79 một mình nên dừng phương tiện kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần jean dài, màu đen, bên phải, phía trước của T có 01 chai nhựa màu trắng, có nắp đậy màu tím nhạt đựng đoạn ống hút nhựa trong suốt, được hàn kín, bên trong có chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) và trong túi áo khoác màu đen, phía trước, bên trái 01 gói thuốc lá hiệu Nelson bên trong có đoạn ống hút nhựa trong suốt, được hàn kín, có chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) có sự chứng kiến của ông Đỗ Văn B, nên lực lượng dẫn giải T về trụ sở Công an thị trấn Ó làm việc. T khai nhận, khoảng 15 giờ ngày 20-12-2023, T điện thoại qua mạng xã hội Z cho người tên Ti N (T2) không xác định được nhân thân mua thiếu 1.200.000 đồng ma túy đá, T2 đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 67AM-039.79 mượn của Chau Thị K một mình đến khu vực chợ Ó1, huyện T gặp T2 nhận ma túy để vào gói thuốc lá hiệu Hero, T đem ma túy về nhà lấy một phần sử dụng, phần còn lại cất giấu trong gói thuốc lá hiệu Hero.
Đến khoảng 11 giờ ngày 21-12-2023, T3 (tên gọi khác: L) không xác định rõ nhân thân điện thoại cho T qua ứng dụng Messenger mua 300.000 đồng ma túy đá, T đồng ý chiết một phần ma túy mua của T2 để vào đoạn ống hút nhựa, điều khiển xe mô tô 67AM-039.79 đến khu vực Trường Q ở khóm T, thị trấn Ó, huyện T bán ma túy cho T3 (L), nhận tiền. Khoảng 11 giờ ngày 23-12-2023, T3 tiếp tục điện thoại qua ứng dụng M hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, T đồng ý. Sau đó, T chiết ma túy mua của T2 thành 02 bọc ma túy: 01 bọc ma túy để trong gói thuốc lá hiệu Nelson để trong túi áo khoác màu đen dài tay bên trái (để bán cho T3, Mẫu M₁) và 01 bọc ma túy còn lại cất giấu trong chai nhựa màu trắng để trong túi quần
3
jean dài màu đen bên phải phía trước (để sử dụng, Mẫu M2). T điều khiển xe mô tô 67AM-039.79 một mình để giao ma túy cho T3, khi đến khu vực khóm T, thị trấn Ó, huyện T thì bị bắt quả tang như đã nêu trên.
Ngày 31-12-2023, T bị khởi tố điều tra.
Vật chứng thu giữ:
- 02 đoạn ống hút nhựa, trong suốt, được hàn kin, bên trong có chất tỉnh thể màu trắng (nghi là ma túy);
- 01 vỏ thuốc lá hiệu Nelson;
- 01 chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu tím nhạt;
- 01 quần jean dài màu đen, không rõ nhãn hiệu;
- 01 áo khoác dài tay, màu đen, nhãn hiệu DΩ, S2;
- 01 cây kéo;
- 01 chai nhựa, có gắn nắp nhựa màu đỏ trên nắp chai nhựa có khoét hai lỗ tròn, 01 lỗ tròn được gắn đoạn ống hút nhựa màu trắng, dưới đáy chai nhựa được hàn dính với ly thủy tinh màu trắng;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7+, kiểu máy: SM-C710F/DS, số sêri: R58JB5Y4KCD, Imel 1: 352808091338509, Imel 2: 352809091338507.
- 01 xe mô tô biển số 67AM-039.79, nhân hiệu Detech, số khung RPECCB6PEJA532915, số máy VDEJ0139FMB-T532915.
Phiếu xét nghiệm ma túy ngày 23-12-2023 của Công an thị trấn Ó, huyện T, ghi nhận: Mai Thanh dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.
Kết luận giám định số 245/KL-KTHS(MT-GT) ngày 29-12-2023 của Phòng K3 - Công an tỉnh A, kết luận:
Mẫu M₁ gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1742 gam.
Mẫu M2 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1010 gam.
Kết luận giám định số 186/KL-KTHS(MT-GT) ngày 12-3-2024 của Phòng K3 - Công an tỉnh A, kết luận:
Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong: 01 điện thoại nhãn
4
hiệu Samsung (ký hiệu A) do Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T gửi giám định, chi tiết thể hiện trong đĩa DVD dữ liệu trích xuất kèm theo.
Đối với:
Người tên Ti N (T2) bán ma tuý cho T do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T với K2, T3 (L), ngoài lời khai của T và không làm việc được với K2, T3 (L) nên chưa đủ căn cứ xử lý T về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Hành vi tàng trữ 01 cây kéo; 01 chai nhựa, có gắn nắp nhựa màu đỏ trên nắp chai nhựa có khoét hai lỗ tròn, 01 lỗ tròn được gắn đoạn ống hút nhựa màu trắng, dưới đáy chai nhựa được hàn dính với ly thủy tỉnh màu trắng của T do chưa đủ định lượng và T chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về hành vi tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T về hành vi “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra,
Bị cáo khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 20-12-2023, bị cáo có hành vi mua ma túy đá để sử dụng và bán lại cho người nghiện lấy tiền để trả tiền ma túy đã mua. Bị cáo bán ma túy 02 lần cho T3 (còn gọi là L, nhưng không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể): Lần 1, vào khoảng 11 giờ ngày 21-12-2023, bán cho T3 300.000 đồng ma túy đá và nhận tiền. Lần 2, vào khoảng 11 giờ ngày 23-12-2023, bán cho T3 500.000 đồng ma túy đá, bị cáo chiết ma túy ra thành 02 bọc, 01 bọc cất giấu trong gói thuốc lá hiệu Nelson để bán cho T3, 01 bọc cất giấu trong chai nhựa màu trắng để sử dụng; bị cáo điều khiển xe một mình đi giao ma túy cho T3 thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, khoảng 08 giờ ngày 22-12-2023, T3 và chồng của T3 là Kỳ cùng 02 đứa con nhỏ đến nhà bị cáo chơi, bị cáo lấy ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy ra để cùng T3, K2 sử dụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Chau Thị K khai nhận: Xe máy biển số 67AM-039.79 là xe của chị, do chị đứng tên chủ sở hữu xe. Bị cáo là cậu ruột của chị, chị đi làm xa và không có nhu cầu sử dụng nên cho bị cáo mượn để
5
sử dụng; chị không biết việc bị cáo sử dụng xe trên để mua và bán ma túy. Chị xin được nhận lại xe.
Người làm chứng ông Đỗ Văn B khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23-12-2023, ông chứng kiến lực lượng Công an thu giữ ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy của bị cáo như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số: 35/CT-VKSTS-HS, ngày 08-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn truy tố bị cáo Mai T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận: Hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Chau Thị K; người làm chứng ông Đỗ Văn B vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 01 đến 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và 07 đến 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 23-12-2023.
Về phần vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho chị Chau Thị K: 01 (một) xe mô tô biển số 67AM-039.79, nhân hiệu Detech, số khung RPECCB6PEJA532915, số máy VDEJ0139FMB-T532915.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7+, kiểu máy: SM- C710F/DS, số sêri: R58JB5Y4KCD, Imel 1: 352808091338509, Imel 2: 352809091338507.
Tịch thu tiêu hủy:
6
- 02 (hai) phong bì được niêm phong, bên trong có chứa vật mẫu là ma túy còn lại sau giám định;
- 01 vỏ thuốc lá hiệu Nelson;
- 01 chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu tím nhạt;
- 01 quần jean dài màu đen, không rõ nhãn hiệu: - 01 áo khoác dài tay, màu đen, nhãn hiệu D2, S2;
- 01 cây kéo;
- 01 chai nhựa, có gắn nắp nhựa màu đỏ trên nắp chai nhựa có khoét hai lỗ tròn, 01 lỗ tròn được gắn đoạn ống hút nhựa màu trắng, dưới đáy chai nhựa được hàn dính với ly thủy tinh màu trắng.
Buộc bị cáo nộp lại số tiền 300.000 đồng thu lợi bất chính.
Bị cáo thống nhất quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, bị cáo không tranh luận bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của bản thân, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập
7
hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra vụ án; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa hôm nay. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 20-12-2023, bị cáo mua ma túy về cất giấu để sử dụng và bán 02 lần cho người nghiện tên T3 (còn gọi là L nhưng không xác định họ tên, địa chỉ cụ thể). Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “ Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương và cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức hành vi của bản thân là nguy hiểm cho xã hội, pháp luật nghiêm cấm nhưng nhằm mục đích có ma túy để sử dụng và có tiền để mua ma túy mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
[5.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người phạm tội tự thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5.3] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền
8
[6] Với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; Hội đồng xét xử buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù trong một khoảng thời gian nhất định là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, đấu tranh, phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” và khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng của vụ án:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7+, kiểu máy: SM-C710F/DS, số sê ri: R58JB5Y4KCD, Imel 1: 352808091338509, Imel 2: 352809091338507, có gắn sim số 0969261607.
Bị cáo sử dụng điện thoại di động trên để liên hệ mua và bán ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- 01 (một) xe máy biển số 67AM-039.79, nhãn hiệu: Detech, số khung: RPECCB6PEJA532915, số máy: VDEJ0139FMB-T532915.
Xe này là tài sản hợp pháp của chị Chau Thị K, chị K không biết việc bị cáo điều khiển xe của chị để mua và bán ma túy nên cần trả lại xe trên cho chị K.
- 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Đỗ Hồng M1. Bên trong có mẫu M₁ còn lại sau khi giám định, có khối lượng: 0,1314g (Không phẩy một ba một bốn gam);
- 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Đỗ Hồng M1. Bên trong có mẫu M2 còn lại sau khi giám định, có khối lượng: 0,0675g (Không phẩy không sáu bảy năm gam);
- 01 (một) vỏ thuốc lá hiệu Nelson;
9
- 01 (một) chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu tím nhạt;
- 01 (một) quần jean dài màu đen, không rõ nhãn hiệu;
- 01 (một) áo khoác dài tay, màu đen, nhãn hiệu DΩ, S2;
- 01 (một) cây kéo;
- 01 (một) chai nhựa, có gắn nắp nhựa màu đỏ trên nắp chai nhựa có khoét hai lỗ tròn, 01 lỗ tròn được gắn đoạn ống hút nhựa màu trắng, dưới đáy chai nhựa được hàn dính với ly thủy tinh màu trắng.
Đây là vật những vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành, liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Buộc bị cáo nộp lại số tiền 300.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bán ma túy.
[9] Đối với người tên Ti N (T2) bán ma tuý cho T, do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T tiếp tục làm rõ xử lý sau.
[10] Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T với K2, T3 (L), ngoài lời khai của T và không làm việc được với K2, T3 (L) nên chưa đủ căn cứ xử lý T về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T tiếp tục làm rõ xử lý sau.
[11] Hành vi tàng trữ 01 cây kéo; 01 chai nhựa, có gắn nắp nhựa màu đỏ trên nắp chai nhựa có khoét hai lỗ tròn, 01 lỗ tròn được gắn đoạn ống hút nhựa màu trắng, dưới đáy chai nhựa được hàn dính với ly thủy tỉnh màu trắng của T do chưa đủ định lượng và T chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về hành vi tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T về hành vi “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ.
[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
10
[13] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn về tính chất mức độ phạm tội, đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị tội danh, điều luật áp dụng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Mai T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Mai T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội bị cáo Mai T phải chấp hành là 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23-12-2023.
2. Vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7+, kiểu máy: SM-C710F/DS, số sê ri: R58JB5Y4KCD, Imel 1: 352808091338509, Imel 2: 352809091338507, có gắn sim số 0969261607 (đã qua sử dụng).
- Trả lại cho chị Chau Thị K: 01 (một) xe máy biển số 67AM-039.79, nhãn hiệu: Detech, số khung: RPECCB6PEJA532915, số máy: VDEJ0139FMB-T532915 (đã qua sử dụng).
- Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Đỗ Hồng M1. Bên trong có mẫu M₁ còn lại sau khi giám định, có khối lượng: 0,1314g (Không phẩy một ba một bốn gam);
- 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn
11
Thị Mỹ H, Đỗ Hồng M1. Bên trong có mẫu M2 còn lại sau khi giám định, có khối lượng: 0,0675g (Không phẩy không sáu bảy năm gam);
- 01 (một) vỏ thuốc lá hiệu Nelson (đã qua sử dụng);
- 01 (một) chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu tím nhạt (đã qua sử dụng);
- 01 (một) quần jean dài màu đen, không rõ nhãn hiệu (đã qua sử dụng);
- 01 (một) áo khoác dài tay, màu đen, nhãn hiệu DΩ, S2 (đã qua sử dụng);
- 01 (một) cây kéo (đã qua sử dụng);
- 01 (một) chai nhựa, có gắn nắp nhựa màu đỏ trên nắp chai nhựa có khoét hai lỗ tròn, 01 lỗ tròn được gắn đoạn ống hút nhựa màu trắng, dưới đáy chai nhựa được hàn dính với ly thủy tinh màu trắng (đã qua sử dụng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15-4-2024).
Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Bé Thi |
12
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T mua bán trái phép chất ma túy
