|
TÒA ÁN ND HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/HS-ST |
|
|
Ngày: 23/05/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hải
2. Ông Nguyễn Thái Học
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lưu Nguyên Vũ – Chức vụ: Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2024/HSST ngày 24 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 6 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 3 năm 1982, tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ĐKHKTT: Tổ C, khu F, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở hiện tại: TDP D, phường B, TP S, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Trần An K, sinh năm 1954; Con bà: Trần Thị V sinh năm 1957; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị H1 sinh năm 1991 (đã ly hôn); Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh T.
(Có mặt tại phiên tòa)
Người chứng kiến:
- - Anh Lê Xuân V1, sinh năm 1992 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
- - Anh Dương Viết H2, sinh năm 1985 (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 19/01/2024, tổ công tác của Công an xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện một người đàn ông đang đứng ở rìa đường có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu và tiến hành kiểm tra thì người này khai nhận tên là Trần H và tự nguyện lấy từ bên trong túi quần bên phải phía trước đang mặc ra 01 túi nilon màu trắng, nắp miệng có viền màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (theo H khai nhận là ma túy loại Heroine) giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng. Sau đó bàn giao hồ sơ, đối tượng, cùng vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P để giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 17 giờ 40 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã phối hợp cùng Phòng K1 Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng vật chứng (nghi là ma tuý, loại Heroine) đã tạm giữ của Trần H, kết quả: Mở phong bì niêm phong ký hiệu A, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, nắp miệng có viền màu trắng) bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng có khối lượng là 0,147 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định (niêm phong ký hiệu A1).
Tại bản kết luận giám định số 275 ngày 27/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng là 0,147 gam."
Tại cơ quan điêu tra Trần H khai nhận: Bản thân H là đối tượng nghiện ma túy nên thường phải đi mua ma túy về sử dụng. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/01/2024, H đi từ phòng trọ thuộc tổ dân phố D, phường B, TP S sang khu vực ngã tư cổng Khu Công nghiệp Đ, huyện P để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, H gặp một người phụ nữ lạ mặt không rõ tên tuổi địa chỉ và mua được của người này 01 gói nilon chứa ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi ra về thì bị tổ công tác của Công an xã Đ bắt quả tang thu giữ vật chứng như nêu trên.
Lời khai nhận tội của bị cáo H là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong (ký hiệu A1) bên trong chứa ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; bên ngoài có ghi chữ “Hoàn trả 0,134 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A trong Vụ: Trần H, sinh năm 1982 –Phạm tội về ma túy” được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình, chờ xử lý .
Căn cứ Cáo trạng số 48/CT-VKSPB ngày 24 tháng 04 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo là đúng người đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Trần H từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư niêm phong còn nguyên vẹn, ký hiệu A1, bên trong có chứa 0,134 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của Trần H phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có căn cứ xác định:
Hồi 11 giờ 10 phút ngày 19/01/2024 tại khu vực xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Trần H đang có hành vi tàng trữ 0,147 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực đó phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)...
c) Heroine .. có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội do bị cáo thiếu lao động, tu dưỡng nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.
[4]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo có nhân thân tốt. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng cần có có mức án nghiêm khắc để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính chất ngăn ngừa tội phạm nói chung và các tội phạm về ma túy nói riêng. Xét thấy mức hình phạt từ 24 đến 30 tháng tù mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị khi luận tội là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, công việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản gì để đảm bảo thi hành do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong còn nguyên vẹn, ký hiệu A1, bên trong có chứa 0,147 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.
[7] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[8] Về nguồn gốc hai gói ma túy Heroine nêu trên, H khai nhận đi mua ma túy của một người phụ nữ H không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể là gì, tại khu vực ngã tư cổng Khu Công nghiệp Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không đủ cơ sở, căn cứ xác minh làm rõ và xử lý đối với đối tượng này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về căn cứ áp dụng pháp luật: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; các Điều 329, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
-
Về tội danh và hình phạt:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần H 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A1, bên ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,134 gam mẫu A1 và vỏ bao gói còn lại sau giám định”
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/5/2024 giữa Công an huyện P với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình).
- Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQS14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần H phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
| Đỗ Thị Thanh Nhàn |
|
Nơi nhận:
|
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
