|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày: 22 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Sơn
Bà Phạm Thị Hoan
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Những người hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H gồm:
- Ông Nguyễn Xuân B - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà.
- Bà Đặng Thị Phương K - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà.
- Ông Lê Văn B1 - Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh H.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử trực tuyến, công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLST-HS, ngày 05/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K1, sinh năm 1984 tại thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Đinh Thị G; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/02/2004, đến ngày 01/3/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh H; có mặt.
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T1, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy, khoảng 09 giờ 30 phút ngày 27/02/2024, Nguyễn Văn K1 đi từ nhà đến đoạn đường thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, K1 mua được 01 gói ma túy của một người đàn ông không quen biết với giá 450.000đ. K1 cầm gói ma túy ở lòng bàn tay trái và đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 09 giờ 40 phút cùng ngày, K1 đang đi trên đoạn đường bê tông thuộc thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương thì bị tổ công tác thuộc lực lượng Công an huyện T phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của K1 01 gói giấy màu trắng, kích thước (01x02)cm có khối lượng là 0,151g ma túy, loại Heroine (Theo Kết luận giám định số 174/KLGĐ-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H).
Bản Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 03/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Văn K1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn K1 thành khẩn khai nhận như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K1 từ 12 - 15 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 27/02/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 0,106g ma túy, loại Heroine; 01 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định đựng trong phong bì niêm phong vật chứng số 174/KL-KTHS của Phòng K2, Công an tỉnh H. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn K1 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 09 giờ 40 phút, ngày 27/02/2024, tại đoạn đường bê tông, thuộc thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn K1 đang cất giấu trái phép 0,151g Heroine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự và ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; có nhân thân tốt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản, do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: 0,106g ma túy, loại Heroine, hoàn lại sau giám định là chất cấm tàng trữ, lưu hành; 01 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định không có giá trị sử dụng, do vậy, cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Đối với người đàn ông, K1 khai chở K1, đưa tiền cho K1 để mua ma túy về sử dụng và người đàn ông bán ma túy cho K1. Quá trình điều tra không xác định được cụ thể nhân thân, lý lịch của 02 người này, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K1 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 27/02/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 0,106g ma túy, loại Heroine; 01 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định đựng trong phong bì niêm phong vật chứng số 174/KL-KTHS của Phòng K2, Công an tỉnh H.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/4/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn K1 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn K1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Giang |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn K bị xử phạt 12 tháng tù
