Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HS-ST

Ngày 21 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Sỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Xuân Hinh;
  2. Ông Phan Văn Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Lương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, đối với:

- Bị cáo: Phạm Văn V; sinh năm 1972 tại Hà Nội (có tài liệu ghi sinh năm 1975); nơi cư trú: Thôn F, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 02/10; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Phạm Văn T và bà Phạm Thị N; có vợ là bà Phạm Thị T1 và 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2004; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/HSST ngày 30/11/1993 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tuyên phạt bị cáo 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 11/01/1994 và thuộc trường hợp đã được xóa án tích. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Vũ Thị N1; sinh năm 1981; địa chỉ: Số nhà I, Thôn E, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 30/11/2023, Phạm Văn V đi bộ ngang qua nhà của chị Vũ Thị N1 tại số I, Thôn E, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Thấy nhà chị N1 không khóa cửa và không có người trông coi, V mở cửa đi vào trong nhà chị N1 tìm tài sản để trộm cắp, khi vào phòng ngủ thấy một 01 máy tính xách tay màu đen để ở trên bàn nên V lấy mang ra ngoài, lúc đi ra đến mái vòm phía trước nhà V thấy 01 máy cưa xăng cầm tay màu đỏ trắng để trên nền mái vòm nên V lấy thêm chiếc máy cưa này và mang toàn bộ tài sản chiếm đoạt được về nhà của mình cất giấu dưới gầm giường trong phòng ngủ. Đến buổi tối cùng ngày thì chị N1 phát hiện bị mất tài sản nên kiểm tra camera của gia đình và đến Công an xã T trình báo. Quá trình làm việc với Công an xã T, Phạm Văn V thừa nhận đã trộm cắp tài sản tại nhà chị N1 vào sáng ngày 30/11/2023, đồng thời V tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an 01 máy tính xách tay màu đen nhãn hiệu Lenovo Gaming Ideapad 3 và 01 cưa máy màu đỏ trắng nhãn hiệu STIHL đã trộm cắp được. Cơ quan Công an đã lập biên bản thu giữ vật chứng do V giao nộp và ban hành quyết định trưng cầu định giá tài sản. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 1054/KL-HĐĐG ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu L 3 trị giá: 10.133.332 đồng; 01 cưa máy hiệu STIHL trị giá: 1.512.499 đồng. Sau khi kết thúc điều tra cơ quan Công an đã trả lại những tài sản nêu trên cho chị N1.

Tại Bản cáo trạng số: 42/CTr-VKS ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố Phạm Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, chị Vũ Thị N1 khai ngoài những tài sản bị mất trộm là 01 máy tính xách tay và 01 cưa máy mà chị đã được cơ quan Công an trả lại, vào ngày 30/11/2023 gia đình chị còn bị mất 2.000.000 tiền mặt nhưng không biết ai lấy nên chị không yêu cầu giải quyết. Nay chị đã nhận lại tài sản bị trộm cắp nên không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Trình bày lời khai tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận vào buổi sáng ngày 30/11/2023 bị cáo đã lén lút vào nhà của chị Vũ Thị N1 tại số I, Thôn E, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng lấy đi 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo Gaming Ideapad 3 và 01 cưa máy hiệu STIHL. Về việc chị N1 khai báo bị mất 2.000.000 đồng tiền mặt thì bị cáo không biết vì bị cáo không chiếm đoạt số tiền này. Bị cáo thừa nhận đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” như Viện kiểm sát truy tố, thành khẩn khai báo, tỏ thái độ hối hận về hành vi của mình đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù, buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về việc chị Vũ Thị N1 có khai báo bị mất 2.000.000 đồng tiền mặt nhưng không có chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Cơ quan Điều tra Công an huyện D, của Kiểm sát viên và của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng bảo đảm cho bị cáo, bị hại thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng quy định của pháp luật, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo, bị hại tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ án, biên bản thu giữ hình ảnh, dữ liệu điện tử do Công an xã T lập vào ngày 30/11/2023; biên bản tạm giữ của bị cáo Phạm Văn V 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo màu đen và 01 máy cưa hiệu STIHL do Công an xã T ngày 01/12/2023; Kết luận định giá tài sản số: 1054/KL-HĐĐG ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D. Qua đó có cơ sở xác định: Vào ngày 30/11/2023 tại Thôn E, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng bị cáo Phạm Văn V đã lén lút chiếm đoạt của chị Vũ Thị N1 các tài sản là 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo Gaming Ideapad 3 trị giá 10.133.332 đồng và 01 cưa máy hiệu STIHL trị giá 1.512.499 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Về việc chị N1 khai báo bị mất 2.000.000 đồng tiền mặt, quá trình điều tra không thu thập được chứng cứ để chứng minh nên không có cơ sở xử lý.

[3] Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/HSST ngày 30/11/1993 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tuyên phạt bị cáo 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân; buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc Q 400.000 đồng; bồi thường cho bà Nguyễn Thị P 01 chỉ vàng 24K; buộc bị cáo phải nộp 170.000 đồng do phạm tội mà có để sung quỹ nhà nước và 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; tuyên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo. Tại Quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù số 22/THA ngày 11/01/1994 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã cho bị cáo được giảm thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại 01 tháng 21 ngày nên bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 11/01/1994 (Bút lục 114); tại Quyết định miễn thi hành án dân sự số 01/2006/QĐST-THA của Tòa án nhân dân huyện Di Linh đã cho bị cáo được miễn 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (bút lục 79); tại Biên lai thu tiền số 16286 ngày 24/3/2008 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh đã thu của bị cáo 170.000 đồng để sung ngân sách nhà nước (bút lục 80). Do đó có cơ sở xác định bị cáo đã thi hành xong phần án phí và nộp đủ khoản thu lợi bất chính sung ngân sách nhà nước. Về khoản bồi thường cho bị hại, tại Biên bản xác minh do Công an huyện D lập ngày 05/4/2024, đại diện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh cho biết: Từ ngày Bản án hình sự sơ thẩm số 15/HSST ngày 30/11/1993 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng có hiệu lực pháp luật đến nay, ông Nguyễn Ngọc Q và bà Nguyễn Thị P không làm đơn yêu cầu thi hành án nên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh không tổ chức thi hành phần bồi thường thiệt hại trong Bản án hình sự sơ thẩm số 15/HSST ngày 30/11/1993 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (bút lục 82). Trong khí đó, tại Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1985, đã được sửa đổi, bổ sung năm 1989, 1991, 1992 quy định về thời hiệu thi hành bản án như sau: “1. Không buộc người bị kết án phải chấp hành bản án, nếu tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đã qua những thời hạn sau đây: a) Năm năm đối với các trường hợp xử phạt từ năm năm tù trở xuống”. Tại Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1985, đã được sửa đổi, bổ sung năm 1989, 1991, 1992 quy định về các trường hợp xóa án tích như sau: “3. Người bị kết án không phải về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia hoặc về tội phạm quy định ở Chương XII Phần các tội phạm Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi việc thi hành bản án đã quá thời hiệu, người ấy không phạm tội mới trong thời hạn sau đây: a) Ba năm trong trường hợp hình phạt là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội; b) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù đến năm năm”. Căn cứ vào các tài liệu và quy định của pháp luật nêu trên cho thấy bị cáo thuộc trường hợp đã được xóa án tích về tội trộm cắp tài sản công dân theo Bản án hình sự sơ thẩm số 15/HSST ngày 30/11/1993 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

[4] Bị cáo đã thực hiện hành vi cố ý xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù để răn đe, giáo dục bị cáo và phục vụ công tác phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét việc bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[5] Bị hại chị Vũ Thị N1 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết. Cần buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Văn V 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Di Linh;
  • - CQ Điều tra Công an huyện Di Linh;
  • - CQ Thi hành án hình sự Công an huyện Di Linh;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Di Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Di Linh;
  • - Sở Tư pháp Lâm Đông;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu án văn, hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Văn Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 44/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger