|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 44/2025/HN-ST Ngày: 15/4/2025 V/v: Xin ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Trúc.
- Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Hồ Thị Kim Luyến.
- Bà Đỗ Thị Lệ Hằng.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Thu
– Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
- Đại diện Viện kiểm sát quận Ninh Kiều tham gia phiên toà: Bà
Lê Hoàng Dung – Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 95/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 242/2025/QÐST-HN ngày 26 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1986
Địa chỉ: 1 P, P. T, Q. N, TP ..
Địa chỉ liên hệ: số D đường B, KDC I, P. A, Q. N, Tp ..
* Bị đơn: Ông Huỳnh Nguyễn Đông P, sinh năm 1985
Địa chỉ: số D đường B, KDC I, P. A, Q. N, Tp ..
(Nguyên đơn và bị đơn đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn xin ly hôn đề ngày 17 tháng 10 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà và ông P qua thời gian tìm hiểu cả hai tự nguyện đi đến hôn nhân. Lễ cưới tổ chức vào năm 2010. Có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận N, Tp . vào ngày 12/9/2011. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên tranh cãi. Do cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P.
Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Tấn P1 (nam) sinh ngày 02/01/2012 và Huỳnh Tấn K (nam) sinh ngày 13/4/2018. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cháu K. Cháu P1 sẽ do ông P nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Bị đơn ông Huỳnh Nguyễn Đông P trình bày: Ông thống nhất lời trình bày của và T về thời gian tổ chức đám cưới cũng như vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Ông nhận thấy giữa vợ chồng không mâu thuẩn gì đến mức phải ly hôn. Hơn nữa hiện 02 con còn nhỏ, vợ chồng nên tập trung tạo lập kinh tế để lo cho 02 con, khi nào con lớn mới tính chuyện riêng của vợ chồng. Hơn nữa hiện ông vẫn còn thương vợ, muốn hàn gắn tình cảm để lo cho các con. Ông không đồng ý lý hôn với bà T.
Thống nhất có 02 con chung như bà T trình bày. Ông không đồng ý giao cháu K cho bà T nuôi. Ông yêu cầu nuôi cả 02 con, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có
Tại phiên tòa, các đương sự giữ nguyên yêu cầu như đã trình bày.
* Quan điểm đại diện Viện kiểm sát:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: là phù hợp quy định pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Huỳnh Nguyễn Đông P.
- Giao cháu Huỳnh Tấn K cho bà T nuôi dưỡng. Giao cháu Huỳnh Tấn P1 cho ông P nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.
- Tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về quan hệ pháp luật: Bà T, ông P tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định nên xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn nên bà T có đơn khởi kiện. Xác định quan hệ pháp luật là “Xin ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà T, ông P xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Do cuộc sống chung không hạnh phúc nên bà T yêu cầu ly hôn. Mặc dù được Tòa án hòa giải tạo điều kiện cho các bên hóa giải khúc mắc, hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình nhưng bà T vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn. Bản thân ông P không muốn ly hôn nhưng ông cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Xét thấy, hôn nhân là sự tự nguyện của cả 02 bên, nếu một bên không muốn tiếp tục thì dù có duy trì cũng không mang lại hạnh phúc. Do vậy nên chấp nhận yêu cầu của bà T là cho bà được ly hôn với ông phong.
[3] Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Tấn P1 (nam) sinh ngày 02/01/2012 và Huỳnh Tấn K (nam) sinh ngày 13/4/2018. Bà T yêu cầu được nuôi cháu K. Cháu P1 sẽ do ông P nuôi dưỡng. Ông P thì yêu cầu được nuôi 02 con, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Nhận thấy, Bà T và ông P hiện đều chưa có việc làm ổn định. Với thu nhập của ông, bà cùng một lúc nuôi cả 02 con thì điều kiện chăm sóc các con sẽ bị hạn chế. Hơn nữa nguyện vọng cháu K thì cháu muốn được sống chung với mẹ. Cháu P1 thì có nguyện vọng sống với cha. Do vậy giao cháu K cho bà T nuôi và giao cháu P1 cho ông P nuôi và không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai là phù hợp.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự xác định không có nên không xem xét.
[5] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, 35, 147, 227 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Huỳnh Nguyễn Đông P.
- Về con chung: Giao cháu Huỳnh Tấn P1 (nam) sinh ngày 02/01/2012 cho
ông P trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Huỳnh Tấn K (nam) sinh ngày 13/4/2018
cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông P và bà T không phải cấp dưỡng nuôi con cho
nhau.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung chò bà T, ông P theo quy định.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng mà bà đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002191 ngày 22/10/2024. Bà T đã thực hiện xong.
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán chủ tòa phiên tòa Cao Thị Thanh Trúc |
|
Thành viên HĐXX Hồ Thị Kim Luyến Đỗ Thị Lệ Hằng |
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Cao Thị Thanh Trúc |
Bản án số 44/2025/HN-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về xin ly hôn
- Số bản án: 44/2025/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
