TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 44/2025/DS-PT Ngày: 10/04/2025. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
“V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; công nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Hằng.
Các Thẩm phán: Ông Bùi Đăng Huy và ông Phạm Anh Tuyết.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 04 năm 2025, tại Trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 69/2024/TLPT-DS ngày 02/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; công nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 141/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 12 năm 2024; Các Quyết định hoãn phiên tòa, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1956 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1956; Đều ở địa chỉ: số A phố V, khu C, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương;
- Bị đơn: Ông Hà Huy N, sinh năm: 1950; Địa chỉ: xóm A, thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn D, sinh năm: 1981.
- Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm: 1984.
- Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1989.
Đều ở địa chỉ: số A phố V, khu C, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Chị Nguyễn Thị Thanh M, sinh năm: 1982; Địa chỉ: số A phố N, phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Chị Nguyễn Thị Bích N2, sinh năm: 1987; Địa chỉ: số C phố B, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Văn D, chị Nguyễn Thị N1, chị Nguyễn Thị Q, chị Nguyễn Thị Thanh M và chị Nguyễn Thị Bích N2: ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1956; Địa chỉ: số A phố V, khu C, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Bà Ngô Thị T, sinh năm: 1955; Địa chỉ: xóm A, thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Ông Hà Văn B, sinh năm: 1970; Địa chỉ: thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Bà Phạm Thị H1, sinh năm: 1970; Địa chỉ: thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị H1: Ông Hà Văn B, sinh năm: 1970; Địa chỉ: thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn T1 - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Ông Phạm Đình H2 (tên gọi khác Phạm Văn H3), sinh năm: 1976; Địa chỉ: thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông H: Ông Hoàng Ngọc Thanh B1 và ông Vũ Cao T2 – Luật sư thuộc Công ty L3.
Có mặt: Ông H, chị M, ông B1, ông T2.
Vắng mặt: Các đương sự khác.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H.
- Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông H, bà P; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn là chị M; người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn D, chị Nguyễn Thị N1, chị Nguyễn Thị Q, chị Nguyễn Thị Thanh M và chị Nguyễn Thị Bích N2 là ông H trình bày: Tháng 4 năm 1993, hộ ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị P được Nhà nước chia ruộng tiêu chuẩn 03 để canh tác gồm bố ông là cụ Nguyễn Văn D1, em ông là ông Nguyễn Huy T3, vợ chồng ông bà và 5 người con là Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị Thanh M, Nguyễn Thị Bích N2. Năm 1997, hộ ông bà được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông bà với
tổng diện tích 6.654m² đất (trong đó có thửa 36/26, tờ bản đồ số 2b, diện tích 1.308m² tại khu Đ, thôn A, xã A, huyện T). Ngay sau khi được chia đất nông nghiệp theo tiêu chuẩn, hộ gia đình cụ D1 đã thống nhất trả tiêu chuẩn đất nông nghiệp cho vợ chồng, con cái ông bà, trong đó có thửa 36/26 nên thửa đất này thuộc quyền quản lý, sử dụng của vợ chồng, các con ông bà mà không liên quan đến cụ D1, ông T3. Mọi người đều nhất trí thửa 36/26 là tài sản của vợ chồng ông bà và các con ông bà. Gia đình cụ D1 không ai tranh chấp về vấn đề này nên nếu yêu cầu khởi kiện của ông bà có căn cứ, được Tòa án chấp nhận, đề nghị Tòa án buộc ông N phải trả lại 1.264m² đất cho gia đình ông bà và các con ông bà mà không tuyên trả cho ai khác trong gia đình cụ D1, ông T3. Từ năm 1990 đến năm 1997, gia đình ông H, bà P không canh tác, chuyển lên thành phố H sinh sống nên cho nhiều gia đình thuê đất, trong đó có ông Phạm Văn L và ông Phạm Văn T4 thuê 1.244m² ở Đ, ông Phạm Văn T5 thuê 816m² ở Đ. Tháng 4 năm 2002, ông H cho ông Hà Huy N thuê thửa đất 36/26, tờ bản đồ số 2b, diện tích 1.308m² thông qua "Giấy nhượng quyền sử dụng đất" (trong giấy ghi là 3 sào 10 thước ở B, tức Bờ Dớm) do ông Hà Văn S và ông Phạm Đình T6 (tên gọi khác Phạm Văn T7) thuê hộ vì ông N đang ở miền N nên không có mặt để ký giấy. Khi đó, tại nhà ông H ở A, ông H, ông S, ông T7 lập và ký tên trong duy nhất 01 "Giấy nhượng quyền sử dụng đất" cho ông N để ông N về sử dụng đất không phải viết lại giấy. Nay, ông Hà Văn B (em ông N giữ giấy này). Ông S giao cho ông H số tiền 4 triệu đồng hộ ông N. Ông H nói với bà P về số tiền 4 triệu đồng ông nhận của ông N trả thông qua ông S và ông T7, việc ông cho ông N quản lý, sử dụng thửa ruộng trên của gia đình. Bà P cùng các con biết, không có ý kiến gì và đã sử dụng 4 triệu đồng vào việc chung của gia đình. Ông S, ông T7 là người ký kết Giấy chuyển nhượng đất với ông H hộ ông N mà không liên quan, không có quyền lợi, nghĩa vụ, không tranh chấp với gia đình ông bà. Tháng 10/2002, ông N về B2, trực tiếp sử dụng ruộng của gia đình ông bà. Thời gian ông N được sử dụng ruộng hết thời hạn quy định 03 của Nhà nước (hết tháng 10 năm 2013) phải trả lại ruộng cho gia đình ông bà. Đến năm 2013, các hộ trên đều trả lại ruộng cho gia đình ông bà còn gia đình ông N không trả lại vì cho rằng thời hạn thuê chưa hết và đã bán ruộng này cho ông Hà Văn B. Vì đòi nhiều lần mà ông N không trả lại ruộng nên năm 2018, ông bà khởi kiện ông S và ông T7 đến Tòa án nhưng do sức khỏe bà P yếu nên ông bà rút đơn. Ban đầu, ông bà khởi kiện buộc ông N phải trả lại cho gia đình ông bà 1.308m² đất ở Đ trị giá 45.000.000 đồng do thuê ruộng của ông bà nhưng quá trình giải quyết vụ án, ông bà xác định ông H đã chuyển nhượng đất cho ông N là thật nhưng thời hạn bán đất chỉ đến tháng 10/2013. Đến nay, chưa có quyết định giao đất mới, Nhà nước gia hạn thời hạn sử dụng đất mà không chia lại đất cho người dân, ai đang quản lý, sử dụng vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng không phải đo đạc, không phải cấp
lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2013, ông N không trả lại ruộng cho gia đình ông bà, vẫn giữ Giấy nhượng quyền sử dụng đất nên ông bà tự lấy lại diện tích đất này để sử dụng. Gia đình ông bà cho ông Phan Văn T8 sử dụng một năm (từ năm 2013 đến hết năm 2014). Tháng 01 năm 2015, ông T8 trả lại ruộng cho gia đình ông bà. Thửa ruộng này được dồn ô đổi thửa vào thửa ruộng nhà ông B vì ông B giữ Giấy nhượng đất này của gia đình ông bà. Tuy nhiên, ông bà lại đề nghị Tòa án không xem xét việc ông T8 thuê diện tích đất này của ông bà nữa vì ông T8 không công nhận việc cấy thuê ruộng này. Sau khi xã dồn ô đổi thửa cho ông B xong, ngày 06/01/2015, ông T8 lại làm văn bản thuê ruộng này với ông N từ tháng 01/2015 đến tháng 01/2016 thì trả lại. Thửa đất 36/26, tờ bản đồ số 2b diện tích 1.308m² ở khu B (B), thôn A đã được Ủy ban nhân dân xã D3 đổi thửa thành đất công điền của xã, ông bà nhất trí. Diện tích đất ông bà khởi kiện ông N, hiện vợ chồng ông Hà Văn B và bà Phạm Thị H1 đang quản lý, sử dụng tại khu đồng Bờ Rớm, xã A sau dồn ô đổi thửa chỉ còn 1.264m² đất 03 (vì đã hiến đất làm đường giao thông thủy lợi) giáp với thửa đất của gia đình ông Mạc Văn H4 tại khu đồng Bờ Rớm trong tổng số 3.091m2. Sau khi đo đạc, thẩm định tại chỗ, ông bà nhất trí diện tích đất và vị trí đất ông B đã xác định được thể hiện theo sơ đồ hiện trạng và trên thực địa giáp đất gia đình ông Mạc Văn H4 được đo đạc, thẩm định ngày 05/4/2024 và nhất trí kết quả định giá. Toàn bộ cây cối trên 1.264m² đất là của ông B và bà H1 trồng, gia đình ông bà chỉ có quyền sử dụng 1.264m² đất trong tổng diện tích đất theo hiện trạng là 3.091m². Nay, ông bà yêu cầu ông N phải trả lại đất cho gia đình ông bà, gia đình ông bà sẽ trả lại đất cho Nhà nước vì thời hạn trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 20 năm, yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H và ông N vô hiệu, buộc ông N phải trả lại đất cho gia đình ông bà, ông B và bà H1 phải di dời cây cối trả lại cho gia đình ông bà 1.264m² đất 03 giáp với thửa đất của gia đình ông Mạc Văn H4 trong số 3.091m² tại khu đồng Bờ Rớm do vợ chồng ông B và bà H1 đang quản lý, sử dụng. Lý do hợp đồng vô hiệu vì thời hạn chuyển nhượng đất giữa ông H và ông N chỉ từ năm 2002 đến hết tháng 10 năm 2013 nên đến nay thời hạn chuyển nhượng đất đã hết. Đất là tài sản chung của ông bà và các con mà chỉ một mình ông H ký kết hợp đồng với ông N trong khi vợ con ông không biết, không có chữ ký của ông N trong giấy chuyển nhượng, không chứng thực hợp đồng tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, thửa đất vẫn mang tên ông bà trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại biên bản lấy lời khai, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hà Huy N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị T trình bày: Ông là Hà Huy N nhưng trong "Giấy nhượng quyền sử dụng đất" ông H ghi tên ông là Hà Văn N3, ông xác định là một người. Năm 2002, vợ chồng ông bà nhờ ông Hà Văn S và ông
Phạm Văn T7 (tên gọi khác Phạm Đình T6) mua hộ thửa đất 3 sào 10 thước (chính là thửa 36/26, tờ bản đồ số 2b diện tích 1.308m²) đất trồng cây hàng năm ở khu Đ (B), thôn A, xã A, huyện T của gia đình ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị P. Do lúc đó ở trong miền N nên ông bà gọi điện nhờ ông S và ông T6 mua hộ thửa đất này của gia đình ông H, bà P. Vì ở xa nên ông bà không trực tiếp ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để mua bán thửa đất trên với gia đình ông H được mà phải thông qua ông S và ông T6. Ông bà không công nhận việc ông bà thuê đất của ông H. Khi ký kết hợp đồng, ông H viết duy nhất 01 bản "Giấy nhượng quyền sử dụng đất" cho ông N3. Nội dung thể hiện, ông H chuyển nhượng cho ông N3 3 sào 10 thước ruộng ở khu B tại thửa ruộng 36/26 nêu trên, ông N3 sẽ sử dụng ruộng trên hết thời hạn quy định 03 của Nhà nước thì trả lại ruộng cho ông H chứ không phải ông H và ông N3 thỏa thuận hết năm 2013 ông N3 trả lại ruộng cho ông H. Ông Hà Văn S và ông Phạm Đình T6 là người trực tiếp giao dịch và ký tên trong Giấy nhượng đất với ông H hộ ông N3. Giấy này ông Hà Văn B đang giữ. Bà P cũng có mặt ở nhà, biết, cùng bàn bạc với ông H, ông S và ông T6 để ông H viết Giấy chuyển nhượng đất cho ông N3 và nhận số tiền 4 triệu đồng mua đất của vợ chồng ông bà còn ông H giao lại số ruộng trên cho ông N3 thông qua ông S. Số tiền mua đất là tiền chung của vợ chồng ông bà, không liên quan đến các con ông bà là Hà Thị O, Hà Thị D2, Hà Thị Phương L1 và bất cứ ai khác. Thời điểm đó, 4 triệu đồng tương đương với giá trị thửa đất trên nên ông bà mua đất của ông H mà không phải thuê đất vì vàng lúc đó là 250.000 đồng/chỉ. Ông bà không bàn bạc trực tiếp với ông H nhưng nhờ ông S và ông T6 qua điện thoại rồi gửi tiền về để ông S trả hộ tiền mua đất. Ông S được bàn giao ruộng và trả ông H 4 triệu đồng hộ ông bà. Mục đích mua đất để trồng lúa. Hợp đồng chuyển nhượng không được Cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực. Cuối năm 2002, ông bà từ miền N về, trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất 36/26. Ông S đã giao lại cho ông N3 Giấy chuyển nhượng do ông H viết. Năm 2012, vì không còn nhu cầu sử dụng nên ông bà đã chuyển nhượng (bán) cho vợ chồng ông Hà Văn B (em ruột ông N3) thửa đất với số tiền 170 triệu đồng và giao lại tờ: "Giấy nhượng quyền sử dụng đất" do ông H viết cho ông N3 cho ông B nên thửa đất trên không còn liên quan đến ông bà. Từ năm 2012, vợ chồng ông B là người trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất này. Ngày 24/02/2014, ông N3 mới làm "Biên bản bàn giao" đất cho ông B. Theo Quyết định dồn ô đổi thửa của Ủy ban nhân dân xã A đối với thửa đất 36/26, thôn A quyết định dồn thửa 36/26 nhập với diện tích đất của ông B thành thửa đất lớn cho vợ chồng ông B quản lý, sử dụng. Thời hạn sử dụng ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 20 năm, đến nay, thời hạn quy định 03 của Nhà nước chưa hết và Nhà nước khẳng định thời hạn giao đất 03 vẫn còn hiệu lực, Nhà nước chưa có quyết định giao đất mới đối với thửa 36/26, gia hạn
thời hạn sử dụng đất mà không chia lại đất cho người dân, ai đang quản lý, sử dụng vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng mà không phải đo đạc lại, không phải cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông bà không phải trả lại đất cho vợ chồng ông H. Từ khi trực tiếp quản lý, sử dụng, ông bà đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người sử dụng đối với thửa 36/26 nhưng chưa thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng đất tại Cơ quan có thẩm quyền. Ông bà không công nhận việc năm 2013 ông bà đã trả lại đất cho vợ chồng ông H, không công nhận việc vợ chồng ông H đã cho ông Phan Văn T8 sử dụng 01 năm (từ tháng 12/2013 đến hết năm 2014) có viết giấy biên nhận. Do đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông B nhưng vợ chồng ông B chưa trả 170 triệu đồng mua đất cho ông bà, vì vậy, từ ngày 06/01/2015 đến hết tháng 01/2016, ông bà cho ông Phan Văn T8 thuê đất. Hết tháng 01/2016, ông T8 trả tiền cho ông bà (nhưng ông T8 không công nhận đã thuê đất của ông bà nên ông bà đề nghị Tòa án không phải xem xét nội dung này) đồng thời vợ chồng ông B cũng trả ông bà 170 triệu đồng nên lúc này việc mua bán đất giữa ông bà với vợ chồng ông B mới chính thức hoàn thiện. Thửa đất được ông bà sử dụng ổn định từ năm 2002 đến năm 2016 thì bán cho vợ chồng ông B. Ông bà đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2002 giữa ông H với ông N3 có hiệu lực pháp luật. Đề nghị Tòa án công nhận giao dịch giữa ông N3 với ông B có hiệu lực pháp luật. Vợ chồng ông B có trách nhiệm liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo ông bà, Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H với ông T4, ông C1 (T), L xác định rõ thời hạn mua đất đến hết năm 2013 còn Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H và ông N3 không có thời hạn, việc mua bán giữa hai nhà là mua đứt bán đoạn nên việc đòi đất của vợ chồng ông H đối với ông N3 không có căn cứ. Ủy ban nhân dân xã A xác định thửa 36/26 có nguồn gốc của gia đình ông H ở vị trí hiện nay không còn liên quan đến quyền lợi của các bên mà là đất công điền của Ủy ban nhân dân xã là đúng. Sau khi dồn điền đổi thửa, vợ chồng ông B đã sử dụng 3.171m² đất gồm: của ông Phạm Đình H2, của ông B và diện tích thửa 36/26 mà ông N3 mua của ông H để đổi lấy diện tích đất của hộ bà Phạm Thị N4 và hộ ông Phạm Văn S1. Do đó, vợ chồng ông B đã sử dụng diện tích đất của hộ bà N4 và hộ ông Sinh T9 sau khi dồn ô đổi thửa đến nay. Ông bà đồng ý với kết quả thẩm định tại chỗ với diện tích đất là 3.091m², nhất trí diện tích đất tranh chấp sau khi dồn điền đổi thửa còn 1.264m² đất mà vợ chồng ông H khởi kiện. Đồng ý với vị trí đất theo sơ đồ hiện trạng và trên thực địa được ông B xác định giáp với đất của gia đình ông H4, nhất trí với kết quả thẩm định và định giá tài sản. Ông bà xác định diện tích 1.264m² và tài sản trên diện tích 3.091m² đất sau khi thẩm định không còn liên quan đến ông bà. Số tiền đo đạc, xem xét thẩm định, định giá tài sản, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định
của pháp luật. Ông bà có đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc, tại phiên tòa.
Tại biên bản lấy lời khai, quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H1 là ông Hà Văn B trình bày: Năm 2014, vợ chồng ông được ông Phạm Đình H2 (em bà H1) tự nguyện tặng cho diện tích đất 03 của ông H2 mà vợ chồng ông không phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ gì đối với ông H2. Diện tích đất này là của riêng ông H2, không liên quan đến vợ con ông H2 và bất cứ thành viên nào trong gia đình bà H1. Vợ chồng ông được ông H2 bàn giao đất đầy đủ, không vướng mắc. Diện tích đất của ông H2 trước khi thực hiện dồn điền đổi thửa là 1.565m² tại thửa số 4 ở khu Đ, Thiên Quan; sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa là 1.513m² tại thửa số 1 ở khu Đ. Lý do ông ký tên "Bẩy" trong phần "ký nhận" của B3 thống kê loại đất, diện tích đất canh tác của các hộ dân trước và sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa mà không phải ông H2 ký tên trong phần "ký nhận" đối với diện tích 1.513m² được ông H2 tặng cho năm 2014 vì ông không đề nghị ghi tên ông nên cán bộ thôn A vẫn ghi tên ông H2 trong Bảng thống kê. Vợ chồng ông mua đất của vợ chồng ông N3 từ năm 2012 nhưng ngày 24 tháng 02 năm 2014 hai bên mới lập "Biên bản bàn giao" và trả 170 triệu đồng cho vợ chồng ông N3 vào tháng 01/2016. Đây là tiền chung của vợ chồng ông, không liên quan đến các con ông bà là Hà Thị H5 và Hà Quang T10. Sau thời điểm dồn điền đổi thửa, vợ chồng ông dùng tổng diện tích đất do được ông H2 tặng cho 1.513m², mua của ông N3 1.264m² và đất của vợ chồng 394m² để đổi lấy 1.584m² đất tại thửa số 1 khu đồng Bờ Rớm của hộ bà Phạm Thị N4 và 1.675m² đất tại thửa số 1 khu đồng Bờ Rớm của hộ ông Phạm Văn S1. Vợ chồng ông đã quản lý, sử dụng tổng diện tích đất của hộ bà N4 và hộ ông S1 là 3.259m² (sau thẩm định là 3.091m²) đất tại khu Đ từ đó đến nay. Vợ chồng ông và mọi người đều xác định việc tặng cho, mua bán, chuyển đổi đất giữa họ với nhau đã hoàn thành. Quá trình quản lý, sử dụng diện tích đất này, vợ chồng ông trồng chuối, bưởi....trên đất, cải tạo đất làm rươi và thực sự có nhu cầu sử dụng diện tích đất nông nghiệp trên. Trong tổng diện tích 3.091m² đất có 1.264m² đất có nguồn gốc do vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của ông Hà Huy N, ông xác định rõ vị trí 1.264m² đất nằm trên sơ đồ hiện trạng và thực địa giáp đất ông Mạc Văn H4 là diện tích đất đang có tranh chấp còn phần còn lại là đất của vợ chồng ông, đề nghị Tòa án căn cứ vào số liệu đã đo đạc, thẩm định ngày 05/4/2024 là 3.091m² để giải quyết vụ án. Ông nhất trí với kết quả thẩm định và định giá tài sản. Đối với khoản tiền đo đạc, thẩm định và định giá tài sản, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Đối với cây cối mà vợ chồng ông trồng trên đường giao thông nội đồng, ông bà sẽ tự di dời để trả lại mặt bằng cho Nhà nước và nghiêm chỉnh chấp hành. Đối với cây cối trên đất, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật để đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp cho vợ chồng ông. Ông bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H, bà P vì việc mua bán thửa đất này giữa ông H và ông N là tự nguyện, đã hoàn thành, ông H đã nhận đủ 4 triệu đồng của vợ chồng ông N thông qua ông S, Nhà nước gia hạn thời hạn sử dụng đất đối với người đang trực tiếp quản lý, sử dụng; người đang trực tiếp sử dụng đất có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất, được Nhà nước cho tiếp tục sử dụng. Ông H đã viết "Giấy nhượng quyền sử dụng đất" cho ông N (giấy này ông N đưa cho ông vào ngày 24/02/2014 khi ông và ông N lập và ký "Biên bản bàn giao"). Ông N đã được nhận đất và sử dụng ổn định. Sau đó, vợ chồng ông N đã cho ông bà quản lý, sử dụng đất từ năm 2012, đến năm 2014, ông N bán, bàn giao đất cùng giấy tờ đất trên cơ sở ông và ông N thiết lập "Biên bản bàn giao" nhưng không làm thủ tục tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho vợ chồng ông. Đến nay, ông bà chưa đăng ký quyền sử dụng đất tại Cơ quan có thẩm quyền và chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng của ông N và bà T cũng như diện tích đất đã gộp thửa. Việc mua bán đất giữa ông H và ông N là đứt đoạn mà không phải đến hết thời hạn quy định 03 của Nhà nước. Việc mua bán ruộng ở địa phương từ trước đến nay chủ yếu mua bằng miệng, tin nhau là chính, cẩn thận hơn thì viết giấy tờ, không ai có ý kiến thay đổi. Ông bà đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H và bà P. Đề nghị Tòa án công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp giữa ông H và ông N có hiệu lực pháp luật. Công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp giữa ông N và ông B có hiệu lực pháp luật nên đề nghị Tòa án công nhận 1.264m² đất tại khu Đ thuộc thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương nằm trong tổng diện tích 3.091m² đất tại khu Đ thuộc thôn A, xã A, huyện T hiện ông bà đang quản lý, sử dụng là của ông bà. Ông bà có trách nhiệm liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mình. Gia đình bà N4 đổi 1.584m² đất ở khu đồng B lấy 1.541m² đất của ông bà ở khu Đ là tự nguyện, không phải các thêm tiền với diện tích đất còn thiếu và gia đình bà N4 không yêu cầu gì thêm đối với ông bà, ông bà nhất trí. Gia đình ông Phạm Văn S1 đổi 1.675m² đất tại khu đồng Bờ Rớm lấy 1.360m² đất của ông bà tại khu Đ (vợ chồng ông còn thiếu của họ 45m² đất) nhưng việc đổi đất của hai bên là tự nguyện, ông S1 xác định không còn vướng mắc nhưng bà Phan Thị Q1 và anh Phạm Tiến T11 là vợ con ông S1 lại yêu cầu vợ chồng ông bà trả họ giá trị 45m² đất nông nghiệp còn thiếu bằng 10 triệu đồng, ông bà không chấp nhận vì gia đình ông S1 đã được nhận số tiền 355.000 đồng chia lại ruộng tương đương với diện tích đất bị thiếu là 45m² được quy đổi của xóm Đ, thôn A.
Tại Biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Đình H2 (tên gọi khác Phạm Văn H3) trình bày: Năm 2014 trước dồn điền đổi
thửa, ông đã tặng cho vợ chồng ông Hà Văn B và bà Phạm Thị H1 (anh rể và chị gái ông) 1.565m² đất 03 tại thửa số 4 khu Đ, T; sau dồn điền đổi thửa là 1.513m² tại thửa số 1 ở khu Đ của ông (không liên quan đến vợ con ông và bất cứ thành viên nào trong gia đình bố mẹ ông). Do ông B, bà H1 và ông không đề nghị ghi tên ông B trên diện tích 1.513m² đất nên cán bộ thôn A vẫn ghi tên ông trong Bảng thống kê loại đất..., ông B ký tên trong Bảng này. Việc ông tặng cho vợ chồng ông B là hoàn toàn tự nguyện, ông không yêu cầu ông B và bà H1 phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ gì với ông. Ông xác định không còn vướng mắc, không còn liên quan quyền lợi ở thửa đất này.
Người làm chứng trình bày:
+ Tại biên bản lấy lời khai, ông Phạm Văn S1, bà Phan Thị Q1 và anh Phạm Tiến T11 trình bày: Gia đình có thửa đất 03, trước dồn điền đổi thửa là thửa số 4 diện tích 1.675m² tại khu đồng Mả Cả, T; sau dồn điền đổi thửa là thửa số 1 diện tích 1.675m² tại khu đồng Bờ Rớm ghi tên ông Phạm Văn S1 là chủ hộ, là đất chung của ba người. Cuối năm 2015 sau dồn điền đổi thửa, gia đình ông bà đã đổi diện tích này lấy 1.630m² ở khu đồng Thiên Quan của ông B và bà H1. Gia đình ông B và bà H1 còn thiếu của gia đình ông S1 45m². Ông S1 xác định việc đổi đất giữa hai bên là tự nguyện, giữa hai bên không vướng mắc, không còn liên quan đến nhau. Ông S1 không yêu cầu nhưng bà Q1 và anh T11 yêu cầu ông B và bà H1 phải trả cho gia đình ông bà diện tích 45m² đất còn thiếu là 10 triệu đồng.
+ Tại Biên bản lấy lời khai và bản tự khai, bà Phạm Thị N4, chị Phạm Thị M1, chị Phạm Thị H6, chị Phạm Thị H7 trình bày: Gia đình mẹ con bà có thửa đất 03 được giao chia, trước dồn điền đổi thửa là thửa số 3 diện tích 1.584m² đất tại khu đồng Mối, Rộc; sau thực hiện dồn điền đổi thửa là thửa số 1 diện tích 1.584m² đất tại khu đồng Bờ Rớm ghi tên bà Phạm Thị N4 là chủ hộ, là đất của bà với chồng bà là ông Phạm Đình S2 (chết năm 2012) và con Phạm Thị M1. Bố mẹ chồng bà là cụ Phạm Đình C (chết năm 1994) và Phan Thị H8 (chết năm 2011) đều chết trước ông S2. Diện tích đất này đã chuyển đổi cho vợ chồng ông Hà Văn B và bà Phạm Thị H1 vào cuối năm 2015 để lấy 1.541m² đất của vợ chồng ông B ở khu T. Khi đổi, hai bên thống nhất, tự nguyện đổi, bàn giao đầy đủ đất cho nhau, không phải các thêm tiền đối với diện tích đất còn thiếu. Giữa hai bên không còn vướng mắc, không còn liên quan quyền lợi ở thửa đất này vì diện tích 1.584m² đất này đã là của vợ chồng ông B và bà H1 từ thời điểm sau khi đổi đất cho nhau xong. Bà N4 và các con xin vắng mặt tại các buổi làm việc, tại phiên tòa. Các con bà N4 cam đoan chữ ký, chữ viết, nội dung đã trình bày là đúng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày.
+ Ông Hà Văn S xác định: vào tháng 4 hay tháng 9 năm 2002, ông và ông Phạm Đình T6 đến gặp ông Nguyễn Văn H đặt vấn đề giao dịch hộ ông Hà Huy N
(anh trai ông) để mua thửa ruộng 36/26 diện tích 1.308m² ở khu B, thôn A của gia đình ông H và bà P. Trước đó, ông H và ông N đã thỏa thuận với nhau việc mua ruộng có thời hạn đến hết thời hạn 03 ông N phải trả lại ruộng cho ông H. Thời gian đó, ông N không có nhà mà ở trong miền N nên gọi điện cho ông và ông T6 đến nhà ông H ở thôn A để bảo ông H viết Giấy chuyển nhượng đất. Ông và ông T6 đưa 4 triệu đồng của ông N để trả tiền ruộng cho ông H. Sau khi nhận đủ 4 triệu đồng, ông H viết duy nhất 01 "Giấy nhượng quyền sử dụng đất" còn ông và ông T6 đọc lại rồi ký, ghi rõ họ tên trong giấy này. Sau này, ông N về sử dụng ruộng đỡ phải viết lại giấy. Ông H giao lại ruộng, Giấy chuyển nhượng cho ông và ông T6 nhận đồng thời ông giao 4 triệu đồng của ông N cho ông H. Tháng 10 năm 2002, ông N từ miền N về, ông đưa lại Giấy chuyển nhượng, bàn giao lại ruộng cho ông N, ông N là người trực tiếp sử dụng ruộng của ông H từ đó. Ông không phải là người nhận chuyển nhượng ruộng của ông H, không có quyền lợi trong việc này mà chỉ là người đưa tiền và ký tên trong giấy nhượng đất đồng thời nhận ruộng hộ ông N. Đến năm 2012, ông N đã bán ruộng này cho ông Hà Văn B nên ông B giữ Giấy chuyển nhượng gốc của ông H viết cho ông N. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông H và bà P, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
+ Ông Phạm Đình T6 (tên gọi khác Phạm Văn T7) trình bày: ông nhất trí như nội dung ông Hà Văn S đã trình bày. Ông chỉ gặp ông H một lần vào buổi tối tháng 4 năm 2002, sau đó, ông không biết gì hơn về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H và ông N. Ông không nhận đất của ông H giao cho ông N. Ông chỉ ký tên trong "Giấy nhượng quyền sử dụng đất" và giao tiền mua đất hộ ông N cho ông H mà không có liên quan gì hơn trong việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H và ông N, ông không mua đất của ông H và không tranh chấp đất với ông H. Ông không biết việc gì khác giữa ông H và ông N, giữa ông Hà Văn B và ông N. Ông giữ nguyên lời khai, cam đoan lời khai của ông là sự thật, chịu trách nhiệm về lời khai của mình.
+ Ông Phạm Văn C1 (tên gọi khác Phạm Văn T5) trình bày: Do có nhu cầu sử dụng ruộng để cấy nên ngày 27/10/1999, ông và ông Nguyễn Văn H thống nhất thỏa thuận và viết 01 Giấy biên nhận chuyển nhượng ruộng canh tác, ông H là người viết giấy, ông đã trả lại giấy này cho ông H. Ông H, chủ hộ chuyển quyền sử dụng cho ông 816m² ruộng là 2 sào 4 thước bãi. Ông trả cho ông H số tiền 1.300.000 đồng, thời gian chuyển nhượng từ 27/10/1999 đến 2013 cho đến hết khoán 03 trả lại ruộng cho ông H sử dụng. Ông trả đủ tiền và sử dụng ruộng trên của ông H đến hết năm 2013 đã trả lại ruộng trên cho gia đình ông H, ông H đã nhận lại ruộng trên. Đến nay, ông và ông H, bà P không còn vướng mắc, tranh chấp, liên quan đến nhau.
+ Ông Phạm Đình L2 đã chết nên bà Phan Thị M2 là vợ của ông Phạm Đình L2 và ông Phạm Văn T4 trình bày: Do có nhu cầu sử dụng ruộng để cấy lúa phục vụ đời sống gia đình nên ngày 27/10/1999 (âm lịch), ông T4, ông L2 và ông H thống nhất thỏa thuận, ông H viết Giấy biên nhận chuyển nhượng đất sử dụng theo 03. Ông H có 1.244m² (3 sào 3 thước 4m²) đất nông nghiệp khu sứ đồng Chiều Bãi chuyển nhượng cho ông T4 và ông L2 sử dụng. Ông T4 và ông L2 trả cho ông H số tiền màu nước và san lấp là 2.240.000 đồng. Hai ông canh tác số ruộng này từ ngày 27/10/1999 (âm lịch) đến hết năm 2013 sẽ trả lại ông H. Hai ông đã trả đủ số tiền trên và hai ông đã trả lại diện tích ruộng trên cho gia đình ông H. Giữa họ với ông H, bà P không còn vướng mắc, tranh chấp hay liên quan gì nhau. Giấy biên nhận chuyển nhượng đã trả lại ông H. Các ông bà cam đoan lời khai là sự thật.
+ Ông Phan Văn T8 trình bày: Giữa ông với ông Nguyễn Văn H và ông Hà Huy N không có giao dịch về quyền sử dụng đất. Ông chưa bao giờ nhận cấy thuê ruộng của ông H và ông N. Ông chưa bao giờ viết bất cứ một giấy tờ hay biên nhận gì cho ông H, ông N. Việc hai ông trình bày là không đúng. Ông không thuê, không biết, không liên quan đến thửa ruộng các bên tranh chấp nên không xác nhận cho ông H và ông N về việc ông đã thuê ruộng của họ như họ trình bày.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã A thể hiện: số tiền 4 triệu đồng gia đình ông H nhận chuyển nhượng 1.308m² đất, sau dồn điền đổi thửa là 1.264m² của ông N phù hợp với giá trị đất tại thời điểm chuyển nhượng. Đối với phần diện tích đất công làm đường giao thông nội đồng là 186m² do Ủy ban nhân dân xã A, hiện nay, gia đình ông Hà Văn B đang trồng chuối, bưởi và dừa trên diện tích đất này, quan điểm của Ủy ban nhân dân xã A xác định Ủy ban nhân dân xã yêu cầu gia đình ông Hà Văn B phải tự di dời cây cối, hoa màu nằm trên diện tích đất công này và phải nghiêm chỉnh chấp hành mọi quy định của Nhà nước.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện: đối với thửa đất gia đình ông Hà Văn B đang quản lý, sử dụng: phía Đông Bắc giáp đất ông Mạc Văn H4 dài 68,4m, phía Tây Nam giáp đất ông Phạm Xuân T12 dài 68,4m, phía Đông Nam giáp đường giao thông nội đồng dài 27,1m + 18,6m, phía Tây Bắc giáp mương của xã dài 26,6m + 18,6m. Tổng diện tích đất theo hiện trạng: 1.827m² + 1.264m² = 3.091m². Ông B tự xác định trong 3.091m² có 1.264m² đất ông nhận chuyển nhượng của ông Hà Huy N: phía Đông Bắc giáp đất ông Mạc Văn H4 dài 68,4m, phía Tây Nam giáp đất nhà ông Hà Văn B dài 68,4m, phía Đông Nam giáp đường giao thông nội đồng dài 18,6m, phía Tây Bắc giáp mương của xã dài 18,6m. Tổng diện tích theo vị trí ông B xác định là 1.264m². Cây cối trên đất gồm: chuối 59 bụi = 116 cây, bưởi 14 cây. Phần diện tích đất còn lại của gia đình ông Hà Văn B là 1.827m² có vị trí, ranh giới, mốc giới: phía Đông Bắc giáp phần đất mua của ông N
cũ dài 68,4m, phía Tây Nam giáp ông Phạm Xuân T12 dài 68,4m, phía Đông Nam giáp đường giao thông nội đồng dài 27,1m. Phía Tây Bắc giáp mương của xã dài 26,6m. Cây cối trên đất gồm: bưởi 14 cây, chuối 55 bụi = 149 cây. Phần diện tích đất thuộc đường giao thông nội đồng là 186m². Cây cối trên đất: bưởi 1 cây, chuối 7 bụi = 17 cây, dừa = 4 cây. Ông B xác định không có công sức vượt lập, san lấp đất.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 15/7/2024, Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương quyết định:
[1] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị P về việc tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2002 giữa ông Nguyễn Văn H và ông Hà Huy N vô hiệu, buộc ông Hà Huy N phải trả lại 1.264m² đất tại khu Đ thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương cho gia đình ông H và bà P đồng thời buộc ông Hà Văn B và bà Phạm Thị H1 phải di dời cây cối trả lại cho gia đình ông H và bà P 1.264m² đất tại khu Đ thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp giữa ông Nguyễn Văn H và ông Hà Huy N được xác lập năm 2002 với tiêu đề: "Giấy nhượng quyền sử dụng đất" có hiệu lực pháp luật.
Công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp giữa ông Hà Huy N và ông Hà Văn B được xác lập ngày 24/02/2014 với tiêu đề: "Biên bản bàn giao" có hiệu lực pháp luật.
Giao cho ông Hà Văn B và bà Phạm Thị H1 được quyền sử dụng diện tích 1.264m² đất tại khu Đ, thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương và sử dụng toàn bộ cây trồng trên đất của ông bà có vị trí, kích thước các cạnh được giới hạn bởi các điểm từ A1 A2 A3 A4 đến A1 (có sơ đồ kèm theo).
Ông Hà Văn B và bà Phạm Thị H1 có trách nhiệm liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
[2] Ông Hà Văn B và bà Phạm Thị H1 có trách nhiệm di dời toàn bộ cây cối trên phần diện tích 186m² đất thuộc đường giao thông nội đồng để trả lại mặt bằng cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương có vị trí, kích thước các cạnh được giới hạn bởi các điểm từ A5 A4 A3 A7 A8 đến A5 (có sơ đồ kèm theo).
Bản án còn giải quyết về án phí và chi phí tố tụng, quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29 tháng 7 năm 2024, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông H đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm vì cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ không đầy đủ. Nếu cấp phúc thẩm không hủy bản án dân sự sơ thẩm thì đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên bố các giao dịch dân sự về chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H với ông N, giữa ông N với ông B vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu. Buộc gia đình ông B trả lại gia đình ông H diện tích 1.264m² đất nông nghiệp. Ông B, bà H1 phải thu dọn toàn bộ tài sản, cây cối trả lại đất cho gia đình nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi đại diện Viện kiểm sát phân tích các tình tiết của vụ án, các căn cứ xem xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, ý kiến của các bên đương sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Ông H được miễn án phí án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Người kháng cáo gửi đơn kháng cáo trong thời gian luật định và được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xác định là kháng cáo hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn:
[2.1] Về nguồn gốc và quá trình biến động, sử dụng đất: Năm 1993, gia đình ông H và bà P được giao thửa đất số 36/26, tờ bản đồ số 2b diện tích 1.308m² tương đương 3 sào 10 thước đất trồng cây hàng năm ở khu B (B), thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương. Đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997. Năm 2002, ông H, bà P thỏa thuận chuyển nhượng cho ông N, bà T thửa ruộng trên với giá 4.000.000 đồng. Do ông N, bà T ở xa nên nhờ ông T7 và ông S đến giao tiền và ký nhận vào Giấy nhượng quyền sử dụng đất (ở mục người tiếp nhận và người trực tiếp sử dụng ruộng) do ông H viết. Cùng năm đó, gia đình ông N về nhận ruộng và trực tiếp sử dụng. Năm 2012, ông N và bà T chuyển nhượng thửa đất trên cho vợ chồng ông B, bà H1. Năm 2015, địa phương có đợt dồn ô đổi thửa đất trồng cây hàng năm ở địa phương. Diện tích 1.308m² đất nêu trên chuyển thành đất công điền do Ủy ban nhân dân xã A. Còn gia đình ông B, bà H1 được dồn thửa đất ra vị trí khác nhưng lại đổi đất cho gia đình ông S1 và gia đình bà N4, đồng thời tự nguyện hiến đất làm giao thông thủy lợi. Vì vậy, gia đình ông B, bà H1 chỉ còn được sử dụng 1.264m². Diện tích đất này nằm cùng thửa với diện tích 1.827m² đất khác thuộc quyền sử dụng
của ông B, bà H1. Các đương sự đều xác định 1.264m² đất nằm ở vị trí theo sơ đồ hiện trạng và trên thực địa giáp với đất của hộ ông Mạc Văn H4 do ông B, bà H1 quản lý là diện tích đất mà các đương sự đang tranh chấp có địa chỉ tại thửa số 1, khu Đ, thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương và đều đề nghị Tòa án căn cứ vào số liệu đo đạc, thẩm định ngày 05/4/2024 của Tòa án để giải quyết vụ án.
[2.2] Xét yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H với ông N vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, buộc ông N trả lại đất cho gia đình ông H:
[2.2.1] Về hình thức của hợp đồng: Năm 2002, ông H viết và ký “Giấy nhượng quyền sử dụng đất” nội dung: "...tôi được Hợp tác xã giao cho số ruộng theo Nghị định 03 khoán nay tôi không sử dụng tôi làm nghề khác vậy tôi có nhượng lại cho anh Hà Văn N3 cùng thôn sử dụng anh N3 trả tôi số tiền cù lao là bốn triệu đồng chẵn còn tôi giao lại số ruộng ở khu B là 3 sào 10 thước sau khi anh N3 sẽ sử dụng hết thời hạn quy định 03 của Nhà nước thì trả lại và anh N3 phải đóng tất cả thuế cho Nhà nước, thủy lợi phí các khoản của Nhà nước kể từ vụ mùa năm 2002"; Ông H đã giao đất, ông N3 đã trả đủ tiền theo đúng hợp đồng đã ký kết. Văn bản này không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Năm 2022, ông H khởi kiện yêu cầu ông N3, ông B trả lại đất cho gia đình ông. Căn cứ Điều 129 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật và có vi phạm quy định bắt buộc phải công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch, trong trường hợp này các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
[2.2.2]. Về chủ thể của hợp đồng chuyển nhượng: Ông H (chủ hộ) là người đại diện theo pháp luật của cả hộ gia đình đồng thời là người đại diện theo pháp luật cho các con chưa thành niên nên có quyền đại diện cho hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của cả hộ theo quy định tại Điều 117, Điều 150 Bộ luật Dân sự năm 1995. Bộ luật dân sự năm 1995 không có quy định về việc khi giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình thì phải có chữ ký của các thành viên trong hộ gia đình từ 15 tuổi trở lên. Vì vậy, về chủ thể của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H với ông N3 là hợp pháp.
[2.2.3]. Về nội dung: Sau khi ký kết hợp đồng, ông H nhận của ông N3 4.000.000 đồng tiền chuyển nhượng đất. Cùng năm 2002, ông N3 đã nhận đất sử dụng. Tại cấp phúc thẩm, ông H khai khi ông cho ông N3 thuê đất và lập Giấy chuyển nhượng đất, bà P và các con không biết. Số tiền 4.000.000 đồng nhận của ông N3, ông H chi tiêu cá nhân hết, không chi tiêu cho các công việc của gia đình. Ông nhận thức việc “chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và việc “cho thuê
quyền sử dụng đất” là như nhau. Tại phiên tòa sơ thẩm ông có mặt; Các biên bản lấy lời khai tại cấp sơ thẩm, ông H có được đọc và ký nhận nhưng ông không trình bày nội dung “bà P có mặt cùng ông H bàn bạc với ông S và ông T7 để ông H viết Giấy chuyển nhượng đất cho ông N3. Các con của ông H và bà P đều biết việc ông H chuyển nhượng ruộng cho gia đình ông N3. Số tiền 4.000.000 đồng ông H đã sử dụng vào việc chung của gia đình” như bản án sơ thẩm nhận định. Hội đồng xét xử thấy lời khai của ông H tại phiên tòa phúc thẩm là không có căn cứ chấp nhận.
[2.2.4]. Về điều kiện chuyển nhượng đất nông nghiệp: Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên đương sự đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất không trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Theo quy định tại Điều 706 Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 73, Điều 75 Luật đất đai năm 1993 được sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001; Điều 8, 9 Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 1999 quy định: Bên chuyển nhượng được phép chuyển nhượng đất nông nghiệp khi “Chuyển đến nơi cư trú khác để sinh sống hoặc sản xuất kinh doanh; Chuyển sang làm nghề khác”. Bên được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp khi “Có nhu cầu sử dụng đất”; “Chưa có đất hoặc đang sử dụng đất dưới hạn mức theo quy định của pháp luật về đất đai. Trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất lúa nước thì người nhận chuyển nhượng phải là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp”.
Gia đình ông H được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997, ông H “không sử dụng” và “đi làm nghề khác” nên đủ điều kiện chuyển nhượng đất; Gia đình ông N3 có nhu cầu sử dụng đất, trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp nên có đủ điều kiện nhận chuyển nhượng đất theo quy định.
[2.2.5]. Từ những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy giao dịch chuyển nhượng diện tích 1.308m² đất trồng cây hàng năm (đất nông nghiệp 03, đất 721) giữa ông H và ông N3 là hợp pháp nên có hiệu lực. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H về việc tuyên giao dịch dân sự chuyển quyền sử dụng đất giữa ông H với ông N3 vô hiệu nên không phải giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu;
[3]. Xét yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N3 với ông B, bà H1 vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu:
[3.1] Về hình thức, chủ thể, nội dung: Từ năm 2012-2014, do không có nhu cầu sử dụng nên gia đình ông N3 đã chuyển nhượng diện tích đất trên cho ông B, bà H1 với giá 170.000.000 đồng. Hai bên có lập hợp đồng bằng văn bản nhưng
không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Ông N3 đã giao đất cho ông B, ông B đã thanh toán đủ tiền cho ông N3. Hai bên có đủ điều kiện về chủ thể chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp, không có tranh chấp về việc chuyển nhượng đất cho nhau, đều có yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N3 và ông B có hiệu lực pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận đề nghị của ông N3, ông B, xác định giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N3 với ông B có hiệu lực pháp luật. Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông H.
[3.2] Kể từ khi nhận chuyển nhượng đất đến nay, ông B, bà H1 trực tiếp sử dụng 1.264m² đất đúng mục và luôn có nhu cầu sử dụng đất. Theo Nghị quyết số: 49/2013/QH13 ngày 21/6/2013 quy định: “Nhà nước không điều chỉnh lại đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối đã giao cho hộ gia đình theo Luật Đất đai số 13/2003/QH11; hộ gia đình cá nhân tiếp tục được sử dụng cho đến khi Luật đất đai (sửa đổi) được ban hành và có hiệu lực thi hành, khi đó thời hạn sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối của hộ gia đình, cá nhân áp dụng theo Luật Đất đai (sửa đổi)”. Khoản 3 Điều 210 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước ngày luật này có hiệu lực thi hành, khi hết thời hạn sử dụng đất, nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất. Vì vậy, Ông B, bà H1 được quyền sử dụng diện tích đất là 1.264m² đất nằm ở vị trí theo sơ đồ hiện trạng và trên thực địa giáp với đất của hộ ông Mạc Văn H4, có địa chỉ tại khu Đ, thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương. Không có cơ sở chấp yêu cầu của ông H về việc buộc gia đình ông B thu dọn tài sản trên đất để trả lại đất cho gia đình ông H.
[4] Hiện nay, gia đình ông B đang trồng chuối, bưởi và dừa trên diện tích đất 186m² làm đường giao thông nội đồng thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân xã A, huyện T. Ủy ban nhân dân xã A có yêu cầu gia đình ông B phải tự di dời cây cối, hoa màu nằm trên diện tích đất công này và phải nghiêm chỉnh chấp hành mọi quy định của Nhà nước. Hội đồng xét xử thấy: Đây là quan hệ hành chính không liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như các yêu cầu của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Nếu UBND xã A có yêu cầu đương sự di dời cây cối trả lại đất công thì sẽ thực hiện theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Cấp sơ thẩm đã giải quyết trong cùng vụ án này và buộc ông B, bà H1 phải có trách nhiệm di dời toàn bộ cây cối trên phần diện tích 186m² đất thuộc đường giao thông nội đồng để trả lại mặt bằng cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương là chưa phù hợp nên cần rút kinh nghiệm.
[5] Từ những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm đã áp dụng pháp luật, đánh giá chứng cứ đầy đủ và không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông H là có căn cứ pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, ông H kháng cáo nhưng không xuất trình được thêm chứng cứ mới có giá trị chứng minh nội dung kháng cáo của mình là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông H. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cần sửa một phần bản án sơ thẩm để khắc phục một số sai sót của của Bản án sơ thẩm.
[6]. Về án phí: Kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông H là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
[7]. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 2 Điều 308; các Điều 147, 148, 157, 165, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 3, Điều 75 Luật Đất đai năm 1993; Điều 100, khoản 3 Điều 210 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 131, 132, 705, 706, 707, 708, 709, 712 Bộ luật Dân sự năm 1995; Các Điều 129, 132, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 49/2013/QH13 ngày 21/6/2013 của Quốc Hội về việc kéo dài thời hạn sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối của hộ gia đình, cá nhân; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn - ông Nguyễn Văn H.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị P về việc tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng 1.038m² đất tại khu Đ thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương giữa ông Nguyễn Văn H với ông Hà Huy N vào năm 2002 vô hiệu; giữa ông Hà Huy N với ông Hà Văn B và bà Phạm Thị H1 vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị P về việc buộc ông Hà Huy N phải trả lại 1.264m² đất tại khu Đ thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương cho gia đình ông H và bà P đồng thời buộc ông Hà Văn B và bà Phạm Thị H1 phải di dời cây cối trả lại cho gia đình ông H và bà P 1.264m² đất tại khu Đ thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp giữa ông Nguyễn Văn H và ông Hà Huy N được xác lập năm 2002 với tiêu đề: "Giấy nhượng quyền sử dụng đất" có hiệu lực pháp luật.
- Công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp giữa ông Hà Huy N và ông Hà Văn B được xác lập ngày 24/02/2014 với tiêu đề: "Biên bản bàn giao" có hiệu lực pháp luật.
- Ông Hà Văn B và bà Phạm Thị H1 tiếp tục được quyền sử dụng diện tích 1.264m² đất tại khu Đ, thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương cùng toàn bộ cây trồng trên đất của ông bà có vị trí, kích thước các cạnh được giới hạn bởi các điểm từ A1 A2 A3 A4 đến A1 (có sơ đồ kèm theo).
Ông Hà Văn B và bà Phạm Thị H1 có trách nhiệm liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Ông Nguyễn Văn H được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.
- Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| Tm. Hội đồng xét xử phúc thẩm Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thúy Hằng |
Bản án số 44/2025/DS-PT ngày 10/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; công nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 44/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; công nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn văn H -Hà Huy N
