Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HƯNG YÊN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HSST

Ngày: 08 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Khuê

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền

Bà Nguyễn Thị Bích Thu

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Thành – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Tiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2025/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn L; sinh năm 1993; HKTT: Đội 1, thôn C, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông: Nguyễn Văn L1; sinh năm: 1959. Con bà: Tạ Thị T, sinh năm: 1958. Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư. Vợ: Bùi Thị T1, sinh năm: 1994. Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024, đến ngày 22/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (có mặt)

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Như H, sinh năm 2001.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 16/12/2024 tại khu vực đường bê tông thuộc thôn Đ, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, tổ công tác Công an thành phố H bắt quả tang Nguyễn Văn L, sinh năm 1993; HKTT: Đội 1, thôn C, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác thu giữ tại lòng bàn tay trái L đang cầm 01 gói nhỏ bọc bằng giấy màu trắng có chữ, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục, bột. L khai nhận chất màu trắng dạng cục bột thu giữ ở trên là ma túy, loại Heroine của L mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản, niêm phong vật chứng và đưa L về trụ sở làm việc. Cùng ngày 12/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã tiến hành khám xét chỗ ở của L tại đội A, thôn C, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, qua khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến việc phạm tội.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn L khai nhận: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 16/12/2024 L đi bộ từ nhà tại thôn C, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên đến khu vực thôn Đ, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực ngã ba đường liên thôn thuộc thôn Đ, xã B, thành phố H, L gặp 01 người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể), qua nói chuyện L biết người này có ma túy tổng hợp bán nên L đưa cho người này 200.000 đồng, người này cầm tiền rồi đưa lại cho L 01 gói giấy màu trắng có chữ, bên trong chứa ma túy, loại H1, L cầm gói ma túy trên lòng bàn tay trái rồi đi bộ về, khi L về đến khu vực đường bê tông liên thôn thuộc thôn Đ, xã B, thành phố H thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.

Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu gửi giám định số 730, bên trong có 0,148 gam Heroine, 01 mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định đang được lưu giữ tại kho vật chứng của Công an thành phố H chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số 730 ngày 19/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: chất màu trắng dạng cục và bột thu giữ của L là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,164 gam. Quá trình điều tra Nguyễn Văn L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của L phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 35/CT - VKS - TPHY ngày 25/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý với bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về xã hội, làm người có ích cho gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên luận tội giữ nguyên quyết định đã truy tố hành vi phạm tội của bị cáo theo bản Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu gửi giám định số 730, bên trong có 0,148 gam Heroine, 01 mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Bị cáo còn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H. Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo và các điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 11 giờ 05 phút ngày 16/12/2024 (BL 31,32). Bản kết luận giám định số: 730/KL - KTHS(MT) ngày 19/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H (bút lục số 34c). Phù hợp với lời khai của người chứng kiến anh Nguyễn Như H (bút lục 62 - 65) và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ ngày 16/12/2024 tại khu vực đường bê tông thuộc thôn Đ, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,164 gam Heroine để sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đó, hành vi như nêu ở trên của Nguyễn Văn L đã thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng pháp luật.

[3]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn L1 được tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang, gia đình bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt.

[4]. Về quyết định hình phạt: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội. Ma tuý không chỉ gây tác hại rất lớn về sức khỏe cho chính người sử dụng, mà còn làm ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, là gánh nặng cho gia đình, xã hội, ngoài ra còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Nhưng vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện của bản thân và ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Căn cứ tính chất, hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và hàm lượng ma túy tàng trữ. Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu gửi giám định số 730, bên trong có 0,148 gam Heroine, 01 mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định đang được lưu giữ tại kho vật chứng của Công an thành phố H.

[7]. Đối với người đàn ông bán ma túy cho L, do L không biết chính xác tên tuổi địa chỉ và việc mua bán ma túy giữa L và người đàn ông trên không ai biết, chứng kiến nên không đủ thông tin xác minh xử lý. Vì vậy không có căn cứ để xác minh, xử là có căn cứ.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 136, của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2]. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 16/12/2024.

[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu gửi giám định số 730, bên trong có 0,148 gam Heroine, 01 mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 29/QĐ - VKS - TPHY ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên).

[4]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Hưng Yên (phòng KTNV);
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND TP. Hưng Yên;
  • - CATP Hưng Yên;
  • - Cơ quan THA hình sự & dân sự TP Hưng Yên.
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đăng Khuê

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HSST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 44/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Luân phạm tội tràng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger