TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2025/HS-ST Ngày 19/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Mỹ Hằng.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà La Thị Thành
- 2. Ông Nguyễn Trung Kiên
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Trương Văn Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 19/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện T, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2025/TLST-HS, ngày 27/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HS ngày 07/3/2025 đối với bị cáo:
Lò Văn P; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01/8/1996, tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Con ông: Lò Văn M, sinh năm 1968 và bà: Lò Thị H, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 17/12/2024, tạm giam ngày 26/12/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T (nay là P1 trại tạm giam khu vực T). (Có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo là Ông Lê Mạnh H1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (Có mặt).
Người làm chứng: Hà Văn M1 và Hà Văn Đ, Nùng Văn L (vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn P cư trú tại bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu nhưng thường xuyên sống lang thang tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu để mua Heroine sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 16 giờ ngày 16/12/2024, P đi bộ trong bản Noong Thăng, xã P, huyện T thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Qua nói chuyện, P đã mua từ người phụ nữ đó một gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu xanh) với số tiền 300.000 đồng. Mua được H2, P cấu ra một ít sử dụng bằng hình thức chích. Số Heroine còn lại, P gói lại như cũ rồi cất giấu trong túi áo khoác bên trái (đang mặc), không cho ai biết.
Đến khoảng 11 giờ ngày 17/12/2024, khi Lò Văn P đang ở trong bản Noong Thăng, xã P, huyện T thì có Hà Văn M1 (sinh 07/7/1984; cư trú bản Lả Mường, xã M, huyện T) và Hà Văn Đ (sinh 15/10/1977; cư trú tại bản C, xã M, huyện T) cùng đến gặp P. Do quen biết nhau từ trước nên M1 trực tiếp hỏi P mua H2, P đồng ý bán. M1 đưa cho P 100.000 đồng, P cầm tiền và lấy gói Heroine trong túi áo ra, bẻ một nửa, xé một mảnh nilon màu xanh gói lại bán cho M1. Thấy M1 mua được H2, Hà Văn Đ đứng bên cạnh cũng đưa cho P 100.000 đồng để mua Heroine. P nhận tiền và bán cho Đ số Heroine còn lại. Quá trình M1, Đ và P mua bán H2 có Nùng Văn L (sinh 15/7/1993; cư trú tại bản C, xã M, huyện T) ở gần đó chứng kiến. Mua được H3, M1 và Đ đi vào bụi cây trong bản Noong T, M1 lấy gói Heroin của M1 ra, bẻ làm đôi và đưa cho Đ một nửa, M1 sử dụng Heroin bằng hình thức “chích”, Đ sử dụng Heroin bằng hình thức “hít”. Sau khi sử dụng H3, M1 và Đ đi về đến nhà văn hóa bản L1, xã M, huyện T. Tại đây, Đ lấy gói Heroine của Đ vừa mua được bẻ làm đôi, chia cho M1 một nửa, M1 sử dụng bằng hình thức “chích”, Đ sử dụng bằng hình thức “hít”. Khi M1 và Đ vừa sử dụng Heroin xong thì bị Công an xã M, huyện T phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính, thu giữ 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, 01 bật lửa gas màu đỏ, 01 mảnh giấy bạc đã bị than hóa.
Căn cứ lời khai của Hà Văn M1 và Hà Văn Đ cùng các tài liệu chứng cứ thu thập được, hồi 14 giờ 40 phút cùng ngày Cơ quan CSĐT- Công an huyện T đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn P về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ số tiền 50.000 đồng. P khai nhận tiền do bán ma túy mà có.
Bản kết luận giám định số 25 ngày 20/12/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: một tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng có mã số hiệu BF22139839 gửi đi giám định là tiền thật.
Vật chứng còn lại của vụ án là: số tiền 50.000 đồng; 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa gas màu đỏ đã qua sử dụng; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, hiện số vật chứng trên đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên.
Bản cáo trạng số: 16/CT-VKS ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Lò Văn P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Lai Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lò Văn P từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 - Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo.
Về vật chứng: điểm b khoản 1 Điều 47 – BLHS; điểm b, c khoản 2 Điều 106 – Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa gas màu đỏ đã qua sử dụng; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng.
Truy thu số tiền 150.000 đồng là số tiền hưởng lợi do hành vi phạm tội mà có để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa: nhất trí về tội danh cũng như điều luật, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã trình bày, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 – BLHS do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn để xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm, nhất trí và không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, cùng các tài liệu, kết luận giám định, các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 16 giờ ngày 16/12/2024, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn P đã mua trái phép 01 gói Heroin từ một người phụ nữ không rõ tên, tuổi, địa chỉ với số tiền 300.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán. Đến khoảng 11 giờ ngày 17/12/2024, Lò Văn P đã chia số Heroin mua được thành 02 phần rồi cùng một lúc bán trái phép 02 phần Heroine, mỗi lần bán 01 phần, lần lượt cho 02 người là Hà Văn M1 và Hà Văn Đ lấy tổng số tiền 200.000 đồng. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn P, Cơ quan điều tra thu giữ số tiền 50.000 đồng do bán Heroin mà có.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn P đã cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251- Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát huyện T đối với bị cáo Lò Văn P là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được mọi hành vi liên quan đến chất ma túy đều vi phạm pháp luật, nhưng với ý thức coi thường pháp luật ,nhằm hưởng lợi từ việc mua bán trái phép chất ma túy nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần phải xử lý nghiêm minh.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51- Bộ luật hình sự 2015.
Ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và các luận cứ của người bào chữa đưa ra tại phiên tòa về tội danh, điều, khoản truy tố, mức hình phạt và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Nhân thân: Bị cáo chưa có, tiền án, tiền sự, là người trưởng thành có sức khỏe, bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà mắc vào tệ nạn nghiện chất ma túy. Với thói ăn chơi, lười lao động, bị cáo đã mua trái phép Heroine vừa để sử dụng, vừa bán kiếm lời, cố ý thực hiện hành vi mà pháp luật nghiêm cấm. Do vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cai nghiện và cải tạo, có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng sự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và cũng nhằm mục đích đấu tranh và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, lao động tự do, thu nhập không ổn định. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251- Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[7] Biện pháp ngăn chặn: Tiếp tục áp dụng điều 329 – Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án, thời gian tạm giam sẽ được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
[8] Về vật chứng còn lại của vụ án là: 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa gas màu đỏ đã qua sử dụng; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng là vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Số tiền 50.000 đồng là vật chứng của vụ án và 150.000 đồng đều có nguồn gốc từ hành vi phạm tội mà có cần truy thu 150.000 đồng và tịch thu 50.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
Về nguồn gốc số Heroine bị cáo Lò Văn P2 khai mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của: Hà Văn M1 và Hà Văn Đ, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định.
Đối với Nùng Văn L, người đã chứng kiến việc Lò Văn P bán Heroine cho Hà Văn M1 và Hà Văn Đ. Khi được triệu tập về cơ quan CSĐT, Nùng Văn L đã chủ động tự giác tố giác hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Lò Văn P. Do vậy, Cơ quan CSĐT- Công an huyện T không đề cập xử lý đối với Nùng Văn L về tội không tố giác tội phạm là có căn cứ.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Do bị cáo Lò Văn P là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn giai đoạn 2021 – 2025 theo Quyết định 612/QĐ-UBDT của Ủy ban dân tộc ngày 16/9/2021 nên Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 47- Bộ luật hình sự 2015.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên bố bị cáo: Lò Văn P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý"
1. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lò Văn P 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2024.
2. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa gas màu đỏ đã qua sử dụng; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng.
(Tình trạng vật chứng, tài sản theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/3/2025 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên).
Truy thu số tiền 150.000 đồng của bị cáo Lò Văn P sung vào Ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí: Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn P.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân cấp trên để xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Mỹ Hằng |
Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 44/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn P bị TAND huyện Than Uyên xử phạt 07 năm 03 tháng tù
