Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: /2025/HS-ST

Ngày 18/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hà.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Thúy, ông Cà Văn Thanh.

- Thư ký phiên toà: Ông Cầm Việt Hùng -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Tòng Thanh Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2025/TLST - HS, ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST - HS, ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Hà Văn T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1981 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; trú tại: Bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông: Hà Văn H, sinh năm 1959; con bà: Hà Thị M, sinh năm 1960. Bị cáo có vợ là: Bùi Thị T1 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2008. Tiền án: Tại bản án số 85/2023/HS-ST ngày 02/6/2023, TAND thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt Hà Văn T 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/5/2024). Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Tại bản án số 92/HSST ngày 11/12/2002 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn La xử phạt Hà Văn T 24 tháng tù giam về tội mua bán trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích).

- Tại bản án số 79/HSST/2014 ngày 22/4/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt Hà Văn T 24 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích).

- Tại bản án số 51/2016/HSST ngày 09/3/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt Hà Văn T 36 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích).

Bị can bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 31/8/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn Đ (tên gọi khác: Không), sinh năm 1974 tại huyện M, tỉnh Sơn La; trú tại: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Nguyễn Đoàn L (đã chết) và bà Trần Thị P, sinh năm 1954. Bị cáo có vợ Quàng Thị D, sinh năm 1968, chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Tại Bản án số 388/HSST ngày 09/9/1998 của TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Văn Đ 06 tháng tù giam nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản của công dân(đã được xóa án tích).

- Tại Bản án số 73/HSST ngày 20/7/1999 của TAND quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Văn Đ 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản riêng của công dân (đã được xóa án tích).

- Tại Bản án số 1820/HSPT ngày 21/9/2000 của TAND Tối cao xử phạt Nguyễn Văn Đ 30 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản của công dân (đã được xóa án tích).

- Tại Bản án số 07/HSST ngày 16/1/2004 của TAND quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Văn Đ 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích).

- Tại Bản án số 90/HSST ngày 06/6/2007 của TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt Nguyễn Văn Đ 01 năm tù giam về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (đã được xóa án tích).

- Tại Bản án số 191/HSST ngày 01/12/2008 của TAND thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Văn Đ 06 năm tù giam về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích).

- Tại Bản án số 83/2016/HSST ngày 21/06/2016 của TAND thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt Nguyễn Văn Đ 30 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích).

- Tại Bản án số 112/2018/HSST ngày 15/08/2018 của TAND thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt Nguyễn Văn Đ 36 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/8/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Quàng Thị D, sinh năm 1968; Trú tại: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 55 phút, ngày 31/8/2024, tổ công tác Công an phường Q, thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực bản G, phường Q, thành phố S, đã phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đ tự giác giao nộp 01 gói giấy màu xanh bên trong có chứa cục bột màu trắng cất giấu trong túi quần phía trước bên phải, Đ khai nhận là H1 vừa mua được của của Hà Văn T, trú tại bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La, mục đích để sử dụng. Cơ quan công an đã tiến hành niêm phong vật chứng và tạm giữ hành chính đối với bị cáo.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy màu xanh bên trong có chứa cục bột màu trắng nghi chất ma túy; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen kèm 01 sim điện thoại đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 26G1 - 152.43, số khung 4519FY611893, số máy JF45E0654998, đã qua sử dụng.

Căn cứ vào lời khai của Nguyễn Văn Đ, cơ quan điều tra đã triệu tập Hà Văn T, sinh năm 1981, trú tại bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Tại cơ quan điều tra, Hà Văn T đã thừa nhận hành vi bán Heroine cho Nguyễn Văn Đ, phù hợp với nội dung Nguyễn Văn Đ đã khai nhận. Cơ quan CSĐT Công an thành phố S cũng tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Văn T, tại bản G, phường Q, thành phố S.

Quá trình khám xét khẩn cấp thu giữ gồm: 01 gói giấy màu xanh bên trong có chứa cục bột màu trắng nghi là ma túy (Hà Văn T khai nhận là ma tuý Heroine cất giấu nhằm mục đích để bán kiếm lời); số tiền 280.000 VNĐ (Hai trăm tám mươi nghìn đồng) Hà Văn T khai nhận là tiền còn lại sau khi bán ma tuý cho Nguyễn Văn Đ vào ngày 31/8/2024.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu gửi giám định vật chứng, kết quả:

- Bóc mở 01 phòng bì đựng vật chứng đã được niêm phong dán kín bên trong có 01 (Một) gói ni lon màu xanh, mở ra bên trong có chứa chất bột màu trắng (thu giữ của Nguyễn Văn Đ). Tiến hành cân tịnh toàn bộ số chất bột màu trắng có khối lượng 0,51 gam, lấy chất bột màu trắng có khối lượng 0,17 gam cho vào túi ni lon màu trắng hàn kín lại làm mẫu gửi giám định ký hiệu Đ1, còn lại cục bột màu trắng có khối lượng 0,34 gam chất bột màu trắng cho vào túi ni lon màu trắng hàn kín lại làm mẫu lưu kho ký hiệu T1.

- Bóc mở 01 phòng bì đựng vật chứng đã được niêm phong dán kín bên trong có 01 (Một) gói ni lon màu xanh, mở ra bên trong có chứa chất bột màu trắng (thu giữ của Hà Văn T). Tiến hành cân tịnh toàn bộ số chất bột màu trắng có khối lượng 0,48 gam, lấy chất bột màu trắng có khối lượng 0,17 gam cho vào túi ni lon màu trắng hàn kín lại làm mẫu gửi giám định ký hiệu Đ2, còn lại cục bột màu trắng có khối lượng 0,31 gam chất bột màu trắng cho vào túi ni lon màu trắng hàn kín lại làm mẫu lưu kho ký hiệu T2.

Ngày 31/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiến hành Quyết định trưng cầu giám định số 1272/QĐ – ĐCSKT – MT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh S để giám định chất nghi là ma túy. Tại Kết luận giám định số 1781/KL - KTHS, ngày 04/9/2024 của Phòng K- Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu Đ1, Đ2 gửi giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là Đ1 = 0,17 gam, Đ2 = 0,17 gam".

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Hà Văn T và Nguyễn Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 30/08/2024, Hà Văn T đang đợi đón xe khách tại Quốc lộ F thuộc xã L, huyện V, tỉnh Sơn La để đi về thành phố S thì nảy sinh ý định mua ma túy Heroine về để bán kiếm lời nên đã đi bộ theo đường Quốc lộ 6 để tìm mua ma túy. Khi đi được một đoạn thì gặp một người nam giới dân tộc Mông dáng người thấp bé (T không biết họ tên, địa chỉ). Qua trao đổi, T mua được của người nam giới đó 02 gói Heroine với giá 1.000.000₫ được gói trong gói giấy màu xanh. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu gói ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi xe khách đến khu vực Vincom S rồi xuống xe và đi bộ về nhà. Khoảng 12 giờ ngày 31/08/2024, Nguyễn Văn Đ gọi điện thoại cho T hỏi mua ma túy Heroine, T đồng ý và bảo Đ đến nhà T. Nguyễn Văn Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA LEAD, BKS: 26G1-152.43 đi từ nhà đến nhà Hà Văn T tại bản G, thành phố S, tỉnh Sơn La. Khi gần đến nơi, Đ gọi cho T nói sắp đến nhà T, T lấy ra 01 gói giấy màu xanh có chứa Heroine ra cầm ở tay phải, đi ra khỏi nhà và gặp Đ tại đường dân sinh thuộc bản G gần nhà T. Đ đưa cho T 700.000đ, T nhận tiền và đưa lại cho Đ gói ma túy đang cầm ở tay phải. Đ cất gói ma túy vừa mua được của T vào túi quần phía trước bên phải và điều khiển xe máy đi về tìm nơi sử dụng. Sau khi bán ma túy cho Đ, T đã sử dụng số tiền bán ma túy 700.000 đồng mua đồ ăn của một người nữ giới bán hàng rong hết 420.000đ. Sau đó, T quay về nhà và cất giấu số tiền còn lại là 280.000đ cùng với 01 gói Heroine tại vị trí dưới gối trên giường trong phòng ngủ của T. Khi Nguyễn Văn Đ đang đi tìm nơi sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số: 18/CT-VKSTP, ngày 05/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố:

Bị cáo Hà Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo Hà Văn T, Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo Hà Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy, truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52;điểm s khoản 1 Điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s, t khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (Một) phong bì công văn công an thành phố S được niêm phong, bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + 01 mảnh ni lon màu xanh + mẫu lưu kho ký hiệu T1 = 0,34 gam.

+ 01 (Một) phong bì công văn công an thành phố S được niêm phong, bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + 01 mảnh ni lon màu xanh + mẫu lưu kho ký hiệu T2 = 0,31 gam.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen kèm 01 sim điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn Đ; 01 chiếc điện thoại di

động nhãn hiệu OPPO Reno 5 màu bạc kèm 01 sim điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Hà Văn T.

+ Số tiền 280.000đ thu giữ của bị cáo Hà Văn T.

Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Quàng Thị D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 26G1 - 152.43, đã qua sử dụng.

Buộc các bị cáo Hà Văn T, Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo Hà Văn T, Nguyễn Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Quàng Thị D có ý kiến: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda thu giữ của Nguyễn Văn Đ là tài sản riêng của chị, việc Nguyễn Văn Đ mang xe đi mua ma túy chị không biết, không liên quan. Chị đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Ngày 31/8/2024, bị cáo Hà Văn T đã có hành vi bán trái phép 0,51 gam Heroine cho bị cáo Nguyễn Văn Đ tại bản G, phường Q, thành phố S để lấy 700.000đ; ngoài ra Hà Văn T còn có hành vi cất giấu trái phép 0,48 gam Heroine tại nhà nhằm mục đích bán kiếm lời, tổng khối lượng ma túy Hà Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,99 gam Heroine; bị cáo Nguyễn Văn Đ đã có hành vi cất giấu trái phép 0,51 gam Heroine trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang khu vực bản G, phường Q, thành phố S.

Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, các bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội cũng như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 55phút ngày 31/8/2024 tại bản G, phường Q, thành phố S đối với Nguyễn Văn

Đ; Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp lập hồi 17 giờ 50 phút ngày 31/8/2024 tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố S đối với Hà văn T; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại vật chứng; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám địnhKết luận giám định số 1777/KL - KTHS, ngày 04/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S; lời khai của người chứng kiến.

Đã có đủ cơ sở kết luận hành vi bán trái phép 0,51 gam Heroine cho bị cáo Nguyễn Văn Đ và cất giấu trái phép 0,48 gam Heroine mục đích để bán kiếm lời (tổng khối lượng ma túy là 0,99 gam Heroine) của bị cáo Hà Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm; hành vi cất giấu trái phép 0,51 gam Heroine để sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng; là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất tình hình trật tự an ninh xã hội tại địa phương, các bị cáo là người có đủ nhận thức về hành vi của mình và phạm tội với lỗi cố ý. Các bị cáo đã nhiều lần bị kết án, mặc dù đã có thời gian dài cải tạo, giáo dục trong môi trường trại giam nhưng không rèn luyện tu dưỡng, trở thành người công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục thực hiện nhiều hành vi phạm tội. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với các bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của từng bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hà Văn T có 01 tiền án chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn Đ trong quá trình điều tra đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, khai ra hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Hà Văn T là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm t khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Các bị cáo không có công việc ổn định thường xuyên, không có thu nhập, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Đối với nguồn gốc số ma túy bị thu giữ trong vụ án: Bị cáo Hà Văn T khai mua của một người nam giới dân tộc Mông đã khu vực xã L, huyện V, tỉnh Sơn La nhưng T không biết tên, không biết tuổi, họ tên, địa chỉ của người nam giới này. Ngoài lời khai của bị cáo T ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh do vậy không đủ căn cứ để điều tra mở rộng vụ án.

[6] Vật chứng vụ án:

- Đối với 0,65 gam Heroine còn lại sau khi trích rút số lượng giám định là chất ma túy bị vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy cùng 02 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 02 mảnh ni lon màu xanh không còn giá trị sử dụng, theo quy định tại điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen kèm 01 sim điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn Đ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 5 màu bạc kèm 01 sim điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Hà Văn T là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc liên lạc mua bán trái phép ma túy, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước cùng số tiền 280.000đ thu giữ của bị cáo Hà Văn T là số tiền do bán ma túy mà có theo quy định tại điểm a, b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 26G1 - 152.43, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là tài sản riêng của chị Quàng Thị D, việc Nguyễn Văn Đ mang xe đi mua ma túy chị không biết, không liên quan. Do đó cần chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Quàng Thị D theo quy định tại khoản 2 điều 47 Bộ luật Hình sự.

[7] Về án phí: Các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14của Ủy ban thương vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Hà Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2024.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s, t khoản 1điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2024.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếc phong bì công văn do Công an thành phố S phát hành, còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Hà Văn T và đồng phạm – Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 31/8/2024, gồm: 02 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 02 mảnh ni lon màu xanh; Mẫu lưu T1 = 0,34 gam, T2=0,31 gam”, mặt sau phong bì tại mép giáp lai được dán giấy niêm phong, được đóng dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố S và có chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, IMEI 1 có 05 số cuối là 42015, IMEI 2 có 05 số cuối là 42014, điện thoại đã qua sử dụng cũ, không kiểm tra máy móc bên trong; 01 sim điện thoại có số thuê bao 0388.466.570 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn Đ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 5 màu bạc IMEI 1 có 05 số cuối là 43733, IMEI 2 có 05 số cuối là 43725, điện thoại đã qua sử dụng cũ, không kiểm tra máy móc bên trong; 01 sim điện thoại Viettel có số thuê bao 0387.347.900 thu giữ của Hà Văn T; 280.000đ (hai trăm tám mươi nghìn đồng) thu giữ của Hà Văn T đã được niêm phong trong một phong bì còn nguyên niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Nguyễn Văn Đ, Hà Văn T mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 31/8/2024 tại bản G, phường Q, TP S. Niêm phong hồi 08 giờ 20 phút ngày 04/12/2024 tại Phòng PC 09 Công an tỉnh S. Gồm có: Số tiền 280.000đ (hai trăm tám mươi nghìn đồng), mặt sau dán giấy niêm phong số 0043823, có chữ ký các thành phần tham gia niêm phong và 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh S.

- Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Quàng Thị D: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 26G1 - 152.43, đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/02/2025 giữa Công an thành phố S, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Hà

Văn T và Nguyễn Văn Đ mỗi bị cáophải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng)án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các bị cáo Hà Văn T và Nguyễn Văn Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/3/2025).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/3/2025)./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố Sơn La;
  • - Chi cục THADS thành phố Sơn La;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Sơn La;
  • - Trại giam Công an tỉnh Sơn La;
  • - THAHS;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số /2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về hình sự

  • Số bản án: /2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn T và đồng phạm mua bán, tàng trữ TPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger