|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số 44/2025/HS-ST Ngày 17-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Sơn Tây.
- Ông Tống Văn Tâm.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Nam – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/HSST-QĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Trần Nam C, sinh năm 2003, tại Quảng Bình; nơi thường trú: Thôn B, xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị B; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/02/2025 đến nay; có mặt.
Bị hại: Ông K' Tuyến, sinh năm 2002; nơi thường trú: Thôn B, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; nơi tạm trú: nhà trọ Kiều Thị T, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Bạch Thị Thanh T1 – Chủ tiệm cầm đồ H1; địa chỉ: Thửa đất 1048, tờ bản đồ B2.2, đường L, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Vũ Văn T2, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn D, xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Minh Đ; địa chỉ: số A N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Nam C và K' Tuyến có mối quan hệ quen biết do từng làm chung tại Công ty E.
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 22/02/2024, C liên hệ hỏi mượn xe mô tô của K' Tuyến để chở mợ của C là bà Lê Thị N đi xin việc tại khu vực phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, C hứa khoảng 10 giờ cùng ngày sẽ trả lại xe mô tô cho K' Tuyến, K' Tuyến đồng ý. Sau đó, C đi đến nhà trọ Kiều Thị T3 thuộc khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để gặp K' Tuyến mượn xe. Tại đây, K' Tuyến đưa cho C 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 49H1-627.59 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 49H1-627.59 cho C mượn. Sau khi nhận được xe và giấy chứng nhận đăng ký xe, C điều khiển xe mô tô biển số 49H1-627.59 đến khu vực gần Công ty E thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để chở bà N đi xin việc tại một số công ty thuộc khu vực phường T, thành phố T. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, C chở bà N về lại nhà trọ rồi điều khiển xe mô tô biển số 49H1-627.59 về trả lại cho K' Tuyến. Lúc này, có người tên D (không rõ nhân thân) gọi điện thoại cho C để đòi tiền nợ trước đó. Do không có tiền để trả nợ nên C nảy sinh ý định đem xe mô tô biển số 49H1-627.59 của K' Tuyến đi cầm cố để lấy tiền trả nợ cho D và tiêu xài cá nhân. Thực hiện ý định, C điều khiển xe mô tô đến tiệm H1 thuộc khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương gặp ông Vũ Văn T2 và cầm cố xe mô tô biển số 49H1-627.59 với số tiền 20.000.000 đồng, ông T2 đưa cho C 10.000.000 đồng tiền mặt và 10.000.000 đồng còn lại ông T2 chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng của C, khi cầm cố xe mô tô biển số 49H1-627.59 Cường đưa giấy chứng nhận đăng ký xe và nói xe của người thân nên ông T2 không biết, sau đó C không chuộc lại xe. Sau khi chiếm đoạt được xe mô tô biển số 49H1-627.59 của K' Tuyến, C bỏ đi lang thang tìm việc làm và không liên lạc với K' Tuyến.
Đến ngày 25/02/2024, K' Tuyến đến Công an phường T trình báo vụ việc. Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Công an phường T đã tiến hành xác minh vụ việc, lấy lời khai những người liên quan, lập hồ sơ vụ việc ban đầu và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 143/KL-HĐĐGTS ngày 02/8/2024 của của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 49H1-627.59, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 24.667.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Hội đồng định giá nêu trên.
Cáo trạng số 62/CT-VKSTU ngày 05/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo Trần Nam C về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Nam C, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Nam C 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm đến 03 (Ba) năm.
Về trách nhiệm dân sự: Kết quả tra cứu thể hiện, xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 49H1-627.59 do K' Tuyến đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ban hành Thông báo truy tìm vật chứng số 2151 ngày 12/9/2024 đối với xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 49H1-627.59 nhưng đến nay không có kết quả. Bị cáo đã tác động gia đình để bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu nào khác.
Bị cáo Trần Nam C đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo và không tranh luận tại phiên tòa.
Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình mong Hội đồng xét xử xem xét giảm mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo Trần Nam C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Khoảng 07 giờ ngày 22/02/2024, tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Trần Nam C đã hỏi mượn tài sản là xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 49H1-627.59 và hẹn khoảng 10 giờ ngày 22/02/2024 sẽ trả lại xe, sau đó C không đưa xe về trả cho K' Tuyến mà đem đến Tiệm H1 để cầm cố với số tiền 20.000.000 đồng, giá trị tài sản chiếm đoạt là 24.667.000 đồng. Hành vi của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo Trần Nam C với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại và bị hại có đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Bị cáo Trần Nam C có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian nhất định nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước.
[8] Mức hình phạt đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Kết quả tra cứu thể hiện, xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 49H1-627.59 do K' Tuyến đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ban hành Thông báo truy tìm vật chứng số 2151 ngày 12/9/2024 đối với xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 49H1-627.59 nhưng đến nay không có kết quả.
[11] Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Nam C phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Về trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Xử phạt bị cáo Trần Nam C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (Ba) năm, tính từ ngày Tòa tuyên án (ngày 17/3/2025).
Giao bị cáo Trần Nam C cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí sơ thẩm:
căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Trần Nam C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 44/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
