TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc - |
Bản án số: 44/2025/DS-PT Ngày: 13-3-2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản; tranh chấp họ”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc | |
Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Thanh |
Ông Dư Thành Trung |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đạt Nguyên – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Ông Trần Minh Công – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 266/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản và tranh chấp họ”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 65/2024/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 573/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 01 năm 2025, Thông báo về việc mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án dân sự số 37/TB-TA ngày 10 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 27/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm: 1950; cư trú tại Thôn E, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Thanh D, sinh năm: 1967; cư trú tại số A, đường L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 07/02/2025). Vắng mặt.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1970 và anh Võ Ngọc T, sinh năm: 1993; cùng cư trú tại Thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Bà M và anh T vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bà Trần Thị L – Nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời trình bày tại các bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày: Từ tháng 7/2022 đến tháng 7/2023 bà Nguyễn Thị M và con trai là anh Võ Ngọc T có vay và nợ tiền huê của bà L gồm các khoản sau:
- Về tiền vay, cụ thể là:
- + Ngày 11/3/2022 vay 200.000.000 đồng đến ngày 27/03/2022 trả số 200.000.000 đồng nhưng cùng ngày 27/3/2022 vay lại số tiền 100.000.000 đồng;
- + Ngày 01/9/2022 vay lần thứ nhất số tiền 150.000.000 đồng, lần thứ hai vay số tiền 200.000.000 đồng, đối với số tiền 200.000.000 đồng hai bên thoả thuận sẽ chuyển thành 08 chân huê ngày 03/02/2023, mỗi chân là 500.000 đồng nhưng sau đó không thống nhất được nên gạch bỏ đối với số tiền vay 200.000.000 đồng, bà M vẫn còn nợ số tiền 150.000.000 đồng;
- + Ngày 17/5/2023 vay số tiền 100.000.000 đồng;
- + Ngày 24/5/2023 vay số tiền 60.000.000 đồng;
- + Ngày 26/5/2023 vay số tiền 80.000.000 đồng;
- + Ngày 19/01/2023 vay số tiền 100.000.000 đồng;
- + Ngày 26/6/2023 vay số tiền 150.000.000 đồng.
Trong các giấy mượn tiền ngày 17/5/2023, ngày 24/5/2023, ngày 26/5/2023 thực chất bà M vay vào các ngày 17/5/2021, ngày 24/5/2021, ngày 26/5/2021 nhưng do bị đòi nhiều lần, bà M không có tiền trả cho bà L nên bà M tự sửa các giấy tờ này từ năm 2021 thành năm 2023.
Tổng cộng số tiền vay là 740.000.000 đồng.
- Về tiền huê, bà M tham gia các dây huê cụ thể là:
- + Ngày 23/5/2023 dây 6 chân: 300.000 đồng/ngày x 60 ngày x 6 phần = 108.000.000 đồng.
- + Ngày 23/5/2023 dây 5 chân, 300.000đ/ngày x 60 ngày x 5 phần = 90.000.000 đồng.
- + Ngày 30/5/2023 dây 4 chân, 300.000đ/ngày x 60 ngày x 4 phần = 72.000.000 đồng.
- + Ngày 28/6/2023 dây 10 chân, 300.000đ/ngày x 60 ngày x 10 phần = 180.000.000 đồng.
- + Ngày 03/7/2023 dây 10 chân, 300.000đ/ngày x 60 ngày x 10 phần = 180.000.000 đồng.
Tổng cộng tiền huê là 630.000.000 đồng.
Bà L đã đòi nhiều lần nhưng bà M và anh T không trả. Nay bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà M và anh T trả cho bà L số tiền vay là 740.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi và số tiền huê là 630.000.000 đồng, tổng cộng là 1.370.000.000 đồng.
Bị đơn bà M và anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt nên không có lời khai.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2024/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng đã xử:
- - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L: Buộc bà Nguyễn Thị M và anh Võ Ngọc T có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị L số tiền vay còn nợ là 500.000.000 đồng. Buộc bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị L số tiền huê còn nợ là 12.520.000 đồng.
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L đối với số tiền vay là 240.000.000 đồng và số tiền huê là 617.480.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 23/8/2024 bà Trần Thị L kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: Đề nghị huỷ bản án sơ thẩm do Toà án cấp sơ thẩm đã vi phạm quy định về việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng; bị đơn không có mặt tại thời điểm nguyên đơn khởi kiện cũng như trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không thể nhận được văn bản tố tụng của Toà án niêm yết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Trần Thị L là ông Lê Thanh D vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn bà Nguyễn Thị M và anh Võ Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của bà Trần Thị L, thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[3]. Qua xem xét kháng cáo của bà Trần Thị L thấy rằng:
[3.1] Đối với số tiền vay:
Các giấy vay tiền ngày 27/3/2022, ngày 01/9/2022, ngày 17/5/2023, ngày 24/5/2023, ngày 26/5/2023, ngày 19/01/2023 và ngày 26/6/2023 đều có chữ ký xác nhận và ghi họ tên bên vay là Nguyễn Thị M, Võ Ngọc T. Mặc dù các giấy vay tiền này đều ghi tên người cho vay là thím Tư Nghiệp nhưng qua xác minh thì chính quyền địa phương nơi bà L cư trú đã xác nhận “thím Tư Nghiệp” chính là bà Trần Thị L.
Trong các giấy vay tiền trên có 03 giấy vay tiền ngày 17/5/2023, ngày 24/5/2023 và ngày 26/5/2023 đều bị sửa “năm 2021” thành “năm 2023”. Nguyên đơn cũng thừa nhận các giấy vay tiền này được xác lập vào các ngày 17/5/2021, ngày 24/5/2021 và ngày 26/5/2021 đã bị sửa thành “năm 2023". Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng do có việc sửa các chứng cứ nói trên nên không chấp nhận các giấy vay tiền này là không có cơ sở. Bởi lẽ, thực tế tại các giấy vay tiền này cũng đều có chữ ký xác nhận của bà M và anh T, tuy có sự sửa chữa về năm xác lập nhưng về số tiền và các nội dung khác của giấy vay tiền đều không có sự sửa chữa mà được thể hiện rõ. Hơn nữa, nguyên đơn khởi kiện cũng không yêu cầu tính tiền lãi đối với các khoản vay này nên việc sửa năm xác lập cũng không làm thay đổi bản chất của việc vay tiền giữa bà M, anh T với bà L.
Quá trình giải quyết vụ án bà M và anh T đã được Toà án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Do đó căn cứ vào các bản chính giấy vay tiền do nguyên đơn xuất trình và áp dụng Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cần buộc bà M, anh T có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền vay tổng cộng là 740.000.000đ theo các giấy vay tiền nêu trên.
[3.2]. Đối với số tiền họ (huê): Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, ngày 26/02/2025 người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn rút một phần kháng cáo đối với số tiền nợ họ. Xét việc rút kháng cáo này là tự nguyện và không trái quy định của pháp luật nên căn cứ khoản 3 Điều 289 của Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm phần kháng cáo đối với tiền họ (huê) là có căn cứ.
[3.3]. Xét đề nghị huỷ bản án sơ thẩm của đại diện Viện kiểm sát thấy rằng tuy tại thời điểm khởi kiện bị đơn không có mặt tại địa phương, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án thì Toà án cấp sơ thẩm đã tống đạt trực tiếp được Quyết định đưa vụ án ra xét xử tại Biên bản giao nhận ngày 18/6/2024 cho bà Nguyễn Thị M và bà M cam kết giao tận tay quyết định xét xử cho anh Võ Ngọc T tại địa chỉ Thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Do đó, có căn cứ xác định bị đơn đã biết được việc nguyên đơn khởi kiện; Toà án cấp sơ thẩm tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nêu trên là đúng quy định của pháp luật. Do đó, không chấp nhận đề nghị huỷ bán án sơ thẩm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Từ những phân tích nhận định trên, cần chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị L, sửa bản án sơ thẩm theo hướng đã nhận định nêu trên.
[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bà L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định, cụ thể:
- - Bà L phải chịu án phí đối với số tiền khởi kiện không được chấp nhận nhưng bà L là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định của pháp luật.
- - Bà M, anh T phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho bà L là 34.100.800 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị L; sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L đối với bà Nguyễn Thị M và anh Võ Ngọc T về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản và tranh chấp họ” .
- Buộc bà Nguyễn Thị M và anh Võ Ngọc T có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị L số tiền vay còn nợ là 740.000.000 (Bảy trăm bốn mươi triệu) đồng và số tiền họ còn nợ là 12.520.000 (Mười hai triệu năm trăm hai mươi nghìn) đồng.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo tranh chấp về tiền nợ họ (huê).
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Thị L. Buộc bà Nguyễn Thị M, anh Võ Ngọc T phải chịu 34.100.800 (Ba mươi bốn triệu một trăm nghìn tám trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành Án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Dư Thành Trung – Nguyễn Văn Thanh | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc |
Bản án số 44/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản; tranh chấp họ
- Số bản án: 44/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản; tranh chấp họ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vay tài sản
