Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/DS-PT

Ngày 12-3-2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hồng Giang;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Toàn và bà Nguyễn Thị Thuỷ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Hoàng Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 188/2024/TLPT-DS ngày 28/10/2024. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST, ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 272/2024/QĐPT-DS ngày 27/12/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị V, sinh năm 1962 (có mặt), đại diện theo ủy quyền anh Hoàng Văn T, sinh năm 1990, (có mặt);

Cùng địa chỉ: Xóm Q, xã N, huyện Đ, Thái Nguyên.

Bị đơn: Cụ Đàm Thị L, sinh năm 1942, (có mặt);

Địa chỉ: Xóm Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1973, (có mặt);
  2. Bà Lương Thị T2, sinh năm 1982, (có mặt);
  3. Ông Hoàng Đức H, sinh năm 1965, (có mặt);
  4. Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1968, (có mặt);
  5. Bà Hoàng Thị T3, sinh năm 1971, (có mặt);
  6. Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1980, (có mặt);
  7. Cùng địa chỉ: Xóm Q, xã N, huyện Đ, Thái Nguyên.

  8. Bà Hoàng Thị S1, sinh năm 1977, (có mặt);
  1. Địa chỉ: Xóm N, xã L, TP ., tỉnh Thái Nguyên.
  2. Anh Hoàng Minh L1, sinh năm 1981, (có mặt);
  3. Địa chỉ: Xóm Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  4. Chị Hoàng Thị H1, sinh năm 1984, (vắng mặt);
  5. Địa chỉ: Xóm B, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

  6. Chị Hoàng Thị T4, sinh năm 1987, (vắng mặt);
  7. Địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  8. Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1990, (có mặt), địa chỉ: Xóm Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (Anh L1, chị H1, chị T4) là anh Hoàng Văn T.

Người làm chứng: Ông Nông Văn V1, địa chỉ: Xóm Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án dân sự sơ thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị V và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Hoàng Văn T đều trình bày: Gia đình nguyên đơn có một thửa đất đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số Q732507 ngày 06/10/1999 mang tên hộ ông Hoàng Văn L2 (ông L2 đã chết năm 2019). Năm 2014, cụ L đã xây dựng nhà cho ông T1 và bà T2 sử dụng và đã lấn chiếm vào thửa đất số 660, tờ bản đồ số 14 nằm trong GCNQSDĐ của nguyên đơn nêu trên. Nay nguyên đơn yêu cầu cụ L, ông T1 và bà T2 phải phá dỡ công trình đã xây dựng trên diện tích đất lấn chiếm 69 m², thuộc thửa số 660, tờ bản đồ số 14, để trả lại đất cho nguyên đơn sử dụng.

Bị đơn cụ Đàm Thị L trình bày: Bị đơn là mẹ đẻ của anh L2, chồng chị Trần Thị V, khi ông Hoàng Đại T5 chồng bị đơn và anh L2 còn sống, chúng tôi đã chia đất cho các con đẻ, anh L2 là con trai cả đã được chia đất, khi chia đất chúng tôi đã chỉ ranh giới bằng miệng, để các con tự đi làm thủ tục cấp GCNQSDĐ, anh L2 được chia đất gần nhà vợ chồng tôi. Sau đó anh L2 đã được nhà nước cấp GCNQSDĐ năm nào thì tôi không biết, vì tôi không được ký giáp ranh. Trước khi chia đất cho các con, tôi đã xây dựng căn nhà cấp 4 ở mặt đường, tiếp giáp với thửa đất số 660 của anh L2. Sau này được biết nhà nước cấp giấy cho anh L2 đã cấp vào một phần diện tích do tôi đã xây dựng căn nhà xây cấp 4 từ trước, vợ chồng tôi và anh L2 đã làm văn bản thỏa thuận như sau; anh L2 tặng lại chúng tôi phần diện tích đất do vợ tôi đã tặng cho anh L2 trước đây, để tránh thiệt thòi vợ chồng tôi đã tặng lại cho anh L2 phần diện tích đất khác, để bù vào diện tích đất bị thiếu, hai bên đã lập biên bản họp gia đình. Sau đó anh L2 đã chuyển nhượng lại cho con gái út của bị đơn là chị Hoàng Thị N, sau khi chồng bị đơn và anh L2 chết, chị V là con dâu bị đơn mới khởi kiện. Nay bị đơn không nhất trí yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì nguồn gốc đất là của bị đơn, ngoài ra bị đơn đã xây dựng nhà trên đất trước, sau đó anh L2 mới làm thủ tục cấp giấy bị đơn không được biết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn T1, bà Lưu Thị Thúy Đ trình bày: Ngày 10/3/2012, gia đình ông, bà có họp và lập biên bản, tại cuộc họp có anh Hoàng Văn L2 và bố tôi là ông Hoàng Đại T5, mẹ đẻ là bà Đàm Thị L và chị dâu là Trần Thị V. Các bên đã thoả thuận và thống nhất cho vợ chồng tôi (T1, T2) khoảng 60 m² đất, trong GCNQSDĐ mang tên ông Hoàng Đại T5. Nay bà V khởi kiện đòi lại diện tích đất nêu trên chúng tôi không nhất trí.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn S trình bày: Tôi là con trai của cụ Hoàng Đại T5 và cụ Đàm Thị L, khi ông T5 còn sống, bố mẹ tôi đã gọi các con đến để chia đất từ năm 1990, sau khi chia đất các con tự đi làm thủ tục cấp GCNQSDĐ. Năm 1996, bố mẹ tôi làm nhà trên thửa đất đang tranh chấp với bà V, sau khi xây dựng xong nhà mới phát hiện ông L2 là anh trai cả đã được cấp GCNQSDĐ chồng lên một phần diện tích đất do bố mẹ tôi đã xây dựng nhà, sau đó gia đình tôi đã họp để bàn bạc và thống nhất phần diện tích đất anh L2 đã được cấp giấy năm 1999, nay tặng lại cho bố mẹ. Khi anh L2 được cấp giấy bố mẹ không biết vì không được ký giáp ranh, nhà bố mẹ tôi đã xây dựng trước. Để tránh bị thiệt, bù lại bố mẹ tôi đã tặng cho anh L2 phần diện tích đất khác, diện tích đất này anh L2 đã bán, việc này đã giải quyết xong từ lâu. Đến nay do anh L2 đã chết, nên bà V mới khởi kiện mẹ tôi và hai em T1, T2. Tôi không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì nguồn gốc đất là của bố mẹ tôi, đã xây dựng nhà trên đất trước khi anh L2 được cấp giấy.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Đức H, ông Hoàng Văn S, bà Hoàng Thị N, bà Hoàng Thị S1 và bà Hoàng Thị T3 đều trình bày: Bố mẹ đẻ chúng tôi là (cụ T5, cụ L), cụ T5 chết năm 2021, khi còn sống bố mẹ chúng tôi đã gọi tất cả con lại để chia đất, sau khi chia đất xong các con tự đi làm thủ tục cấp GCNQSDĐ. Năm 1996, bố mẹ chúng tôi đã xây dựng nhà trên thửa đất hiện đang tranh chấp với nhà bà V, sau khi bố mẹ chúng tôi xây dựng xong nhà thì phát hiện anh L2 đã được cấp GCNQSDĐ chồng lên một phần diện tích đất do bố mẹ tôi đã xây dựng nhà. Sau đó gia đình chúng tôi đã họp và thống nhất phần diện tích đất do bố mẹ chúng tôi tặng cho anh L2 trước đây, nay anh L2 tặng cho bố mẹ tôi, bù lại bố mẹ chúng tôi tặng cho anh L2 phần đất khác để đỡ bị thiệt thòi, diện tích đất này anh L2 đã bán cho người khác. Đến nay do anh L2 đã chết, nên bà V mới khởi kiện mẹ tôi và hai em T1, T2, chúng tôi không nhất trí với lý do, vì nguồn gốc đất do bà V khởi kiện là đất của bố mẹ đẻ chúng tôi, bố mẹ chúng tôi đã xây dựng nhà trước, anh L2 làm thủ tục cấp giấy sau, khi làm thủ tục cấp giấy bố mẹ tôi không biết, vì không được ký giáp ranh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn T, anh Hoàng Minh L1, chị Hoàng Thị H1 và chị Hoàng Thị T4 đều trình bày: Gia đình chúng tôi đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp GCNQSDĐ số Q732507 ngày 06/10/1999 mang tên ông Hoàng Văn L2, đến năm 2019 ông L2 chết. Năm 2014, ông Hoàng Văn T1 và bà Lưu Thị Thúy tự Ý xây dựng căn nhà 2 tầng và đã lấn chiếm vào diện tích đất khoảng hơn 60 m², thuộc thửa số 660, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.748 m², gia đình tôi đã nhiều lần yêu cầu ông T1, bà T2 trả lại đất, nhưng không

được chấp nhận. Nay gia đình tôi yêu cầu ông T1, bà T2 phải trả lại diện tích đất lấn chiếm hoặc trả số tiền 600 triệu đồng cho nguyên đơn.

Với nội dung nêu trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:

Áp dụng các Điều 26; 39; 147; 227; 264 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 10, 50 Luật Đất đai năm 2003; Điều 100; 106; 203 Luật Đất đai năm 2013 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị V đối với bị đơn cụ Đàm Thị L, về việc yêu cầu trả lại phần đất đã lấn chiếm với diện tích là 69 m², thuộc thửa số 660, tờ bản đồ số 14, địa chỉ thửa đất: Xóm Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. - Cụ Đàm Thị L được quyền sử dụng diện tích 69 m² đất, thuộc thửa số 660, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: Xóm Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, (có bản trích đo hiện trạng sử dụng đất kèm theo).

    - Khi Tòa án tuyên công nhận quyền sử dụng đất, thì các cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật về đất đai, căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để điều chỉnh tăng giảm, biến động Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án. Bà Trần Thị V và cụ Đàm Thị L phải có trách nhiệm giao nộp lại GCNQSDĐ bản gốc, cho các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục theo quy định về pháp luật về đất đai.

  3. Án phí: Bà V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước, nhưng là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.

Về chi phí tố tụng: Theo đơn đề nghị Tòa án thẩm định, định giá, đo đạc diện tích đất tranh chấp, bà V đã nộp và thanh toán xong số tiền 11.700.000 đồng (mười một triệu, bảy trăm nghìn đồng) theo Giấy biên nhận của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Bà V phải chịu số tiền chi phí tố tụng theo quy định, do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/10/2024, nguyên đơn bà Trần Thị V kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm huỷ Bản án dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, các bên đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

Về nội dung: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá, nguồn gốc, diện tích đất do các bên tranh chấp và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có cơ sở khẳng định diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, tuy nhiên Toà án cấp sơ thẩm tuyên cụ Đàm Thị L được quyền sử dụng diện tích 69 m² đất, thuộc thửa số 660, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: Xóm Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, có bản trích đo hiện trạng sử dụng đất kèm theo, nhưng không tuyên ranh giới, mốc giới thể hiện diện tích 69 m², dẫn đến bản án khó thi hành án.

Về án phí: Toà án cấp sơ thẩm nhận định cụ Đàm Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước, nhưng do cụ L là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định là không đúng, vì yêu cầu khởi kiện của bà V không được chấp nhận, nên cụ L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Áp dụng khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị V, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DSST, ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, việc sửa bản án không liên quan đến yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Nguyên đơn bà Trần Thị V kháng cáo trong hạn luật định và được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[2] Về nguồn gốc thửa đất: Diện tích đất tranh chấp thuộc thửa số 660, tại tờ bản đồ số 14, địa chỉ thửa đất: Xóm Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, có nguồn gốc là của cụ Hoàng Đại T5 (đã chết năm 2021) và cụ Đàm Thị L khai phá. Năm 1990, cụ T5, cụ L chia đất cho các con, trong đó có ông Hoàng Văn L2 (đã chết năm 2019) là con trai của hai cụ. Năm 1999, ông L2 đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp GCNQSDĐ số Q732507 ngày 06/10/1999, vào sổ cấp giấy số 000654 thuộc thửa số 660, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.748 m².

[3] Về hiện trạng diện tích đất đang tranh chấp: Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, đã thể hiện phần ranh giới của 02 thửa đất 660 và 569, tờ bản đồ số 14, (theo bản đồ địa chính năm 1996) có 01 ngôi nhà do cụ T5 và cụ L xây dựng năm 1997, sửa chữa năm 2014, hiện do cụ Đàm Thị L cùng con trai và con dâu là ông Hoàng Văn T1 và bà Lưu Thị T6 đang quản lý, sử dụng.

[4] Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Khoảng năm 1997, 1998, cụ T5 và cụ L đã xây dựng nhà ở, năm 1999 ông L2 được cấp GCNQSDĐ. Sau khi cụ T5, cụ L xây dựng xong nhà và sau khi ông L2 được cấp giấy, thì các bên mới phát hiện một phần diện tích nhà đã xây dựng nằm trên diện tích đất của ông L2 được cấp giấy. Ngày 10/3/2012, cụ T5, cụ L cùng các con, cháu gồm: Ông Hoàng Văn L2, bà Trần Thị V, anh Hoàng Văn T, chị Trần Thị M đã họp gia đình và lập biên bản, các bên thống nhất cho ông Hoàng Văn T1, bà Lưu Thị Thúy K 60 m² đất, giấy tờ sử dụng đất vẫn mang tên ông L2, phần diện tích đất ông L2 đã được cấp giấy năm 1999 nay tặng lại cho cụ T5, cụ L. Năm 2014, vợ chồng cụ L đã sửa chữa nâng cấp căn nhà nêu trên và cho vợ chồng con trai là ông T1, bà T6 ở cùng, các bên nhất trí và không có ý kiến gì.

[5] Xét biên bản họp gia đình lập ngày 10/3/2012: Về hình thức văn bản tặng cho là chưa đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên về nội dung văn bản đã thể hiện ý chí của các bên. Mặt khác, trong suốt thời gian từ năm 1997 cụ L, cụ T5 xây dựng nhà ở, đến năm 2012 gia đình cụ L đã họp, nguyên đơn và các thành viên trong gia đình được tham gia thống nhất ký tên, điểm chỉ vào biên bản. Đến năm 2014, cụ L, cụ T5 nâng cấp sửa chữa nhà ở, nguyên đơn và các thành viên trong gia đình đều biết và không có ý kiến phản đối. Đến năm 2022, sau khi cụ T5 và ông L2 chết, mới xảy ra tranh chấp, mặc dù việc thỏa thuận tặng cho đất giữa các bên chưa đăng ký biến động về quyền sử dụng đất theo quy định, nhưng gia đình cụ L, cụ T5 đã xây dựng nhà ở và nâng cấp, sửa chữa, sử dụng ổn định, đến khi cụ T5 và ông L2 chết mới phát sinh tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định cụ L được quyền sử dụng 69 m² đất, thuộc thửa số 660, tờ bản đồ số 14, địa chỉ tại xóm Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là có căn cứ.

[6] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị V. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm tuyên cụ Đàm Thị L được quyền sử dụng diện tích 69 m² đất, thuộc thửa số 660, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: Xóm Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, có bản trích đo hiện trạng sử dụng đất kèm theo, nhưng không tuyên rõ ranh giới, mốc giới, dẫn đến bản án khó thi hành án.

Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị V, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST, ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, việc sửa bản án không liên quan đến kháng cáo của nguyên đơn.

[7] Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn kháng cáo không có thêm tình tiết, chứng cứ mới. Do đó, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ, được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[8] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị V không được chấp nhận, bà V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, nhưng do bà V là người cao tuổi, nên miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Từ những phân tích nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị V, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST, ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên như sau:
  2. - Cụ Đàm Thị L được quyền sử dụng diện tích 69 m² đất, thuộc thửa số 660, tờ bản đồ số 14, địa chỉ thửa đất: Xóm Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, (có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo, diện tích đất tranh chấp 69 m², theo ranh giới, mốc giới sơ đồ: 3,4,5,6,7,8,3).

    - Khi Tòa án tuyên công nhận quyền sử dụng đất, thì các cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật về đất đai, căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để điều chỉnh tăng giảm, biến động Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án. Bà Trần Thị V và cụ Đàm Thị L phải có trách nhiệm giao nộp lại GCNQSDĐ bản gốc cho các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục theo quy định về pháp luật về đất đai.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho nguyên đơn bà Trần Thị V.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND huyện Đồng Hỷ;
  • - Chi cục THADS huyện Đồng Hỷ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Hồng Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/DS-PT ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 44/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Vân - Đàm Thị Lìu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger