Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HS-ST

Ngày: 11 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Ánh và bà Trần Thị Yến Nhi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thái – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 30/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Trương Văn T – sinh ngày: 15/9/1989, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn  – 1956 và bà Hà Thị B – 1956; Vợ: Nguyễn Thị N – 1990; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04/02/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản; Ngày 11/7/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”; Bị tạm giam từ ngày 01/9/2024 đến nay. (có mặt)

  • - Bị hại: Anh Thái Thanh H – sinh năm: 1985. (có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • + Anh Trương Hồng M – sinh năm: 1983. (có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Anh Trần Trung Đ – sinh năm: 1978. (có mặt)
  • Địa chỉ: Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • - Người làm chứng:
  • + Anh Phạm Ngọc T1 – sinh năm: 1977. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Anh Trương Văn B1 – sinh năm: 1976. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Anh Nguyễn Văn C – sinh năm: 1982. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Anh Lưu Xương D – sinh năm: 1988. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ B, khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Anh Nguyễn Văn N1 – sinh năm: 1994. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ F, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 30/4/2007, Trương Văn T đi cắt tóc về ngang qua nhà anh Nguyễn Thanh H1 ở ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai thấy trong nhà có người say rượu, nói to tiếng nên T đứng lại nhìn vào nhà thì bị anh Trần H2 La Liệt có lời lẽ xúc phạm đến T, dẫn đến giữa anh L với T xảy ra mâu thuẫn, đánh nhau thì được anh Nguyễn Thanh H1, anh Nguyễn Văn P can ngăn.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, anh Nguyễn Văn N1 (là em ruột của H1, P) cùng với L đi đến quán ông C1 ở ấp B, xã T uống cà phê thì gặp Trương Văn T. Bức xúc trước việc T vô cớ đánh anh L nên N1 dùng tay đánh 01 cái vào mặt T rồi cùng với L bỏ đi về nhà. Riêng Trương Văn T về nhà kể lại toàn bộ sự việc bị N1 đánh cho Trần Trung Đ (anh rể T), Trương Hồng M (anh ruột T), Trương Văn  (cha ruột T) và người thân trong nhà biết nên anh Đ cầm theo 01 đoạn cây gỗ đến nhà của anh H1 chửi N1 và dùng cây gỗ đập vào cửa sắt nhà anh H1.

Đến khoảng 21 giờ tối cùng ngày, Nguyễn Văn N1 kể lại sự việc đánh nhau giữa N1 với T cho anh Phạm Ngọc T1 nghe và nhờ T1 đến gặp Trương Văn T hòa giải vụ việc, được anh T1 đồng ý và cùng với N1 đi đến nhà T ở ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Trên đường đi thì gặp các anh Nguyễn Văn C, Lưu Xướng D1, Trương Văn B1 và Thái Thanh H nên T1 rủ cùng đi đến nhà T hòa giải vụ việc đánh nhau. Sau đó, T1, N1, C, D1, B1 và H đi trên 03 xe mô tô đến dừng xe trên đường trước khu vực nhà của T. Anh T1 đi vào nhà của ông Ấ gọi T ra gặp để hòa giải nhưng T, Trần Trung Đ, Trương Hồng M, ông A cho rằng T1 đưa người đến nhà T để gây sự, đánh nhau nên không đồng ý.

Trong lúc anh Phạm Ngọc T1 đang nói chuyện thì Trần Trung Đ, Trương Hồng M, Trương Văn T cầm dao, cây gỗ vuông (cạnh 3,3cm, dài 1,2m) chạy ra đường đuổi đánh các anh N1, C, D1, B1 và H. Khi đuổi theo đến trước cổng nhà ông Ba B2 cách nhà của T khoảng 100m thì đuổi kịp nhóm của anh H. Trương Văn T cầm 01 đoạn gỗ vuông, cạnh 3,3cm, dài 1,2m đánh vào lưng anh C nhưng không gây thương tích; Trần Trung Đ dùng dao chạy đến nơi anh H đang đứng chém anh H. Thấy vậy anh H nhặt đoạn cây tre trên đường để chống trả thì bị Đ dùng dao chém nhiều nhát vào tay trái, tay phải anh Thái Thanh H; riêng các anh N1, D1, B1 chạy thoát.

Căn cứ Bản giám định pháp y số 0676/GĐPY/07 ngày 29/5/2007 của Trung tâm P1 – Sở Y tế tỉnh Đ kết luận tỷ lệ thương tật của anh Thái Thanh H: Thương tích cánh tay (T), cẳng tay (T), cẳng tay (P) và cổ tay (P) do vật sắc. Để lại sẹo tổng chiều dài 30cm.

  • - Gãy mõm khuỷu (T), gãy mõm vẹt (T), gãy một phần ròng rọc dẫn đầu dưới xương cánh tay (T), mẽ xương thuyền, xương thê cổ tay (P).
  • - Hiện tại: Khuỷu (T) và cổ tay (P) cử động hạn chế.
  • Tỷ lệ thương tật toàn bộ là 49% tạm thời.

· Vật chứng của vụ án:

  • + 03 đoạn gỗ vuông, cạnh 3,3cm, dài 1,2m là công cụ phạm tội, nhưng qua kiểm tra tại kho vật chứng Công an huyện T nhận thấy đã bị mục nát, hư hỏng.
  • + 01 con dao Trần Trung Đ sử dụng gây thương tích cho bị hại. Quá trình điều tra, Đ không thừa nhận dùng dao chém anh H gây thương tích nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không thu giữ được.
  • + 01 xe mô tô biển số 60K7-5226 của anh Lưu Xương D không liên quan đế vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại xe mô tô cho anh D.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Trương Văn T đã thỏa thuận bồi thường xong cho anh Thái Thanh H. Anh H không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trương Văn T đã thừa nhận hành vi dùng đoạn gỗ vuông, cạnh 3,3cm, dài 1,2m đuổi đánh nhóm của anh Thái Thanh H.

Bản cáo trạng số 170/CT-VKSTP-ĐN ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Trương Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại các điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ quyền công tố luận tội và tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của bị cáo. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng các điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự. Đề xuất mức án đối với bị cáo Trương Văn T từ 05 năm đến 06 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Trương Văn T đã bồi thường xong cho bị hại Thái Thanh H. Anh H không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về các vấn đề khác: Đây là tội phạm rất nghiêm trọng, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội này là 15 năm được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Tính đến ngày 30/4/2022 thì thời hiệu để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội nêu trên đã hết, các đối tượng Trương Hồng M, Trần Trung Đ không phạm tội mới trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không khởi tố bị can đối với Mỹ, Đ là có căn cứ.

Bị cáo có lời nói sau cùng như sau: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình điều tra vụ án Trương Văn T, Trần Trung Đ, Trương Hồng M chỉ thừa nhận hành vi dùng đoạn gỗ vuông, cạnh 3,3cm, dài 1,2m đuổi đánh nhóm của anh Thái Thanh H. Trần Trung Đ không thừa nhận hành vi dùng dao chém gây thương tích cho anh H. Tuy nhiên, anh H xác nhận Trần Trung Đ là người trực tiếp dùng dao gây thương tích. Lời khai của anh H phù hợp với kết luận giám định thương tích, lời khai của người làm chứng nên đủ căn cứ kết luận thương tích anh Thái Thanh H do Trần Trung Đ dùng dao gây thương tích.

Đối với Trương Văn T: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân.

Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 21 giờ ngày 30/4/2007, anh Nguyễn Văn N1 nhờ các anh Phạm Ngọc T1, Nguyễn Văn C, Lưu Xướng D1, Trương Văn B1 và Thái Thanh H đi đến nhà của Trương Văn T ở ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai với mục đích hòa giải, giải quyết mâu thuẫn giữa anh N1 với T trước đó. Khi đến nơi, Trương Văn T, Trần Trung Đ, Trương Hồng M cho rằng anh T1 đưa người đến nhà T để gây sự, đánh nhau nên Trần Trung Đ cầm theo 01 con dao, Trương Hồng M và Trương Văn T mỗi người cầm theo đoạn gỗ vuông, cạnh 3,3cm, dài 1,2m đuổi đánh các anh N1, C, D1, B1 và H. Trong đó: Trương Văn T cầm 01 đoạn gỗ vuông cạnh 3,3cm, dài 1,2m đánh vào lưng anh C nhưng không gây thương tích; Trần Trung Đ dùng dao chém nhiều nhát vào tay trái, tay phải anh Thái Thanh H gây thương tích với tỷ lệ 49% tạm thời.

Đây là tội phạm rất nghiêm trọng, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội này là 15 năm được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Ngày 12/10/2014, Trương Văn T có hành vi phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999 và bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 tháng tù theo Bản án số 09/2015/HSST ngày 04/02/2015 nên thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính lại từ ngày bị cáo phạm tội mới theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật Hình sự.

Hành vi do bị cáo Trương Văn T đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác. Bị cáo thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống mà không kiềm chế được dẫn đến việc bị cáo cùng với Trần Trung Đ, Trương Hồng M gây thương tích cho người khác. Hành vi của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của các bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, còn xem xét bị cáo đang nuôi con chưa thành niên, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Về nhân thân:

Tại thời điểm thực hiện tội phạm, bị cáo là người dưới 18 tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 90 và Điều 91 Bộ luật Hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

Sau khi phạm tội vào ngày 30/4/2007, bị cáo tiếp tục phạm tội và đã bị kết án về các tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Chống người thi hành công vụ”. Điều này thể hiện bị cáo có nhân thân xấu.

[7]. Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường xong cho anh Thái Thanh H. Anh H không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Về vật chứng của vụ án:

  • + Đối với 03 đoạn gỗ vuông, cạnh 3,3cm, dài 1,2m là công cụ phạm tội, được thu giữ. Tuy nhiên, qua kiểm tra tại kho vật chứng của Công an huyện T nhận thấy hiện đã bị mục nát, hư hỏng do đó không xử lý.
  • + Đối với 01 con dao Trần Trung Đ sử dụng gây thương tích cho bị hại. Quá trình điều tra, Đ không thừa nhận dùng dao chém anh H gây thương tích nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không thu giữ được.
  • + Đối với 01 xe mô tô biển số 60K7-5226 của anh Lưu Xương D không liên quan đế vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại xe mô tô cho anh D.

[10]. Về các vấn đề khác: Đây là tội phạm rất nghiêm trọng, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội này là 15 năm được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Tính đến ngày 30/4/2022 thì thời hiệu để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội nêu trên đã hết, các đối tượng Trương Hồng M, Trần Trung Đ không phạm tội mới trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không khởi tố bị can đối với Mỹ, Đ.

[11]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo Trương Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[12]. Xét quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự;
  • - Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Trương Văn T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 01 tháng 9 năm 2024.

Về án phí: Buộc bị cáo Trương Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - CQCSĐT Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án – VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Mai Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 44/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử bị cáo 04 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger