Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HSST

Ngày: 03-3-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc.
  2. Bà Nguyễn Phước Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoài Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2025/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Công L, sinh ngày 01/01/1993; Giới tính: Nam; Tại tỉnh Bạc Liêu; Nơi thường trú: ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; Nơi ở hiện tại: ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn H (chết) và bà Phạm Thị C; Bị cáo không có vợ, có 01 người con sinh năm 2013; Anh, chị em có 04 người tính cả bị cáo.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/11/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Lê Minh T, sinh năm: 1997;

Địa chỉ: Số C đường L, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Thái Quốc T1, sinh năm: 1985;

Địa chỉ: Ấp P, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 31/7/2024, Lê Công L và Lê Minh T cùng làm ca đêm tại kho Công ty T3, Khu công nghiệp T, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Lịnh làm tại kho truyền số liệu còn T làm bên sản xuất chạy chuyền. Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 01/8/2024, T để điện thoại di động hiệu Iphone 11 64GB màu đỏ trên pallet gỗ và sau đó T tiếp tục làm cách đó khoảng 100 mét. Lịnh thấy điện thoại của T nên nảy sinh ý định chiếm đoạt, L lén lút lấy tắt nguồn, cất giấu trên thùng giấy đựng ốc vít gần đó, để sáng tan làm L đem ra ngoài. Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 01/8/2024, T có hỏi L có thấy điện thoại di động của T không thì L nói không thấy. Đến 07 giờ 00 phút cùng ngày, L lấy điện thoại di động của T bỏ vào túi quần sau đó điều khiển xe mô tô biển số 58V2-858.22 đi đến cửa hàng điện thoại Trường V tại số A Tỉnh lộ 2, ấp X, xã T, huyện C do Nguyễn Quốc T2 làm chủ để mở khóa điện thoại, T2 nói điện thoại trên có mật khẩu và bị khóa icloud không mở được. L không trả lại điện thoại cho T và sợ điện thoại có định vị nên L vứt điện thoại chiếm đoạt được của T vào bụi cỏ ở gần tiệm điện thoại Trường V. Ngày 02/8/2024, Lê Minh T đến Công an xã T, huyện C trình báo.

Ngày 02/8/2024, Công an xã T đã triệu tập Lê Công L làm việc, bị cáo L đã thừa thận hành vi chiếm đoạt điện thoại của ông Lê Minh T, bị cáo L đã chỉ điểm và nhặt lại điện thoại trên giao nộp cho Công an xã T.

Bản Kết luận định giá tài sản số 126/KL-HĐĐGTS ngày 07/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 64MB màu đỏ có giá 7.200.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • 01 xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 59V2-858.22, số máy KC26E1158496, số khung RLHKC2603GY317821. Qua xác minh xác định chủ sở hữu xe mô tô trên là Thái Quốc T1, T1 cho L mượn xe làm phương tiện đi làm, không biết Lịnh trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là Thái Quốc T1.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 64GB màu đỏ, số Imei 1: 352895113055278, số Imei 2: 352895113211533. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là Lê Minh T.

Về dân sự: Bị hại Lê Minh T đã nhận được tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bồi thường.

Bản cáo trạng số: 72/CT- VKS.CC ngày 06 tháng 02 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Lê Công L về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Công L1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Công L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị: Phạt bị cáo Lê Công L từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

Phần dân sự: Bị hại ông Lê Minh T đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Bị cáo Lê Công L tự bào chữa: Không.

Lời nói sau cùng của Bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo rất hối hận về hành vi của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên Tòa, bị cáo Lê Công L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của Bị cáo là phù hợp biên bản ghi lời khai của bị cáo, lời khai người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 01/8/2024, tại công ty T3, Khu công nghiệp T, ấp B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Lê Công L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 64MB màu đỏ của ông Lê Minh T, điện thoại mà bị cáo chiếm đoạt của ông T theo kết luận định giá có trị giá 7.200.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Lê Công L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã trưởng thành, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn có tiền thỏa mãn tư lợi cá nhân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử lý Bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng đồng thời phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, cần xem xét đến nhân thân, những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.

[7] Xét vật chứng vụ án:

[7.1] 01 xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 59V2-858.22, số máy KC26E1158596, số khung RLHKC2603GY307821. Qua xác minh chủ sở hữu xe mô tô trên là ông Thái Quốc T1, ông T1 cho bị cáo L mượn xe làm phương tiên đi làm, không biết Lịnh trộm cắp tài sản. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho ông Thái Quốc T1 là phú hợp nên không Hội đồng xét xử không xem xét.

[7.2] Đối với điện thoại di động hiệu Iphone 11 64GB màu đỏ, số Imei 1: 352895113055278, số Imel 2: 352895113211533. Đây là tài sản bị cáo chiếm đoạt của ông Lê Minh T, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện C đã trả lại cho ông Lê Minh T là phù hợp nên không Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về dân sự: Ông Lê Minh T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Xét bị cáo phải chịu khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Lê Công L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt: Bị cáo Lê Công L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2024.

[2] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Buộc bị cáo Lê Công L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam Chí Hòa – Phân trại
  • tạm giam khu vực củ chi;
  • - Chi Cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hồng Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HSST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 44/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Công L - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger