Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 44/2025/HS-ST

Ngày: 28-02-2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Hồng Diễm Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Thanh Nhàn.

2. Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST-HS ngày 14/02/2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Lâm Hữu T; tên gọi khác: Không; Sinh ngày 16/5/2000 tại Đồng Tháp; nơi cư trú: Tổ E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nơi ở: Khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1974 và bà Lâm Thị X, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt giữ khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 03/5/2024 đến nay; có mặt.

2. Thái Thanh T1; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 17/6/2003 tại Bình Dương; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nơi ở: Đường D, ngã tư Đ, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Thành T2, sinh năm (không rõ) và bà Phạm Thị C, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt giữ khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 03/5/2024 đến nay; có mặt.

3. Nguyễn Hồng L; tên gọi khác: Không; sinh ngày 24/4/2001 tại An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang; nơi ở: Nhà T, Khu phố G, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1973 và bà Hà Thị D, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 23/9/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Bến Cát xử phạt 25.000.000 đồng về tội Đánh bạc theo bản án số 196/2020/HS- ST (Bị

1

cáo chưa chấp hành); tiền sự: Không; bị cáo bị bắt giữ khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 03/5/2024 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Lâm Hữu T, Nguyễn Hồng L, Thái Thanh T1 là bạn bè với nhau và đều là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Nguồn ma túy mà các đối tượng có để sử dụng là do T liên lạc mua của đối tượng đồng tính nam (không rõ lai lịch) sử dụng tài khoản zalo “Sóc Nâu Shop” ở thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Khoảng 16 giờ 01/5/2024, sau khi cùng nhau đi dự tiệc sinh nhật của bạn ở phường T thì T rủ T1 và L về phòng trọ số 39, nhà trọ Phạm Văn Q thuộc khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương của T chơi. T1 và L đồng ý, nhưng do bận việc nên L hẹn sẽ đến sau, nên T và T1 về phòng của T trước. Tại đây, T rủ T1 mỗi người góp 550.000 đồng mua thuốc lắc về sử dụng thì T1 đồng ý và đưa tiền cho T sau đó T điện thoại qua zalo cho một người không rõ lai lịch có tài khoản xalo tên “Sóc Nâu S” hỏi mua 02 viên thuốc lắc, hẹn đem đến trước nhà trọ của T. Khoảng 18 giờ cùng ngày, người có tài khoản zalo tên “Sóc Nâu S” đến trước nhà trọ giao 02 viên thuốc lắc cho T. T đem vào phòng, cho T1 01 viên thuốc lắc để sử dụng, T cũng tự uống rồi mở nhạc, bật đèn màu cho cả hai cùng nghe.

Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, L đến phòng T. Tại đây, T rủ T1 và L mỗi người góp 1.100.000 đòng để mua ma túy Ketamine và thuốc lắc về sử dụng thì T1 và L đồng ý. Do T1 không còn tiền nên L đưa cho T 2.000.000 đồng để góp trước phần của T1 đồng thời nợ lại T 200.000 đồng. T tiếp tục điện thoại cho tài khoản Sóc Nâu S hỏi mua nửa hộp ma túy Ketamine và 02 viên thuốc lắc với giá 3.300.000 đồng và hẹn đem đến khu vực nhà trọ của T giao. Khoảng 23 giờ cùng ngày 01/5/2023, người có tài khoản zalo tên “Sóc Nâu S" đến đầu hẻm H thuộc khu phố P, phường H, thành phố B giao cho T 01 túi ma túy Ketamine, 02 viên thuốc lắc. T đem ma túy về phòng, đổ Ketamine vào đĩa sành sau đó dùng thẻ ATM số 9704365523756501019 của T cà nhuyễn và kẻ thành hàng, dùng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn lại thành ống hút để hít Ketamine nhưng không sử dụng được nên lấy ống hút nhựa có sẵn trong phòng để lên đĩa sành. T bẻ các viên thuốc lắc thành bốn phần để trên đĩa sành. Sau đó, T cùng L, Trọng mở nhạc nghe, bật đèn màu và sử dụng ma túy đến khoảng 04 giờ sáng ngày 02/5/2024 thì đi ngủ. Trên đĩa sành còn một phần viên thuốc lắc và một ít ma tuý Ketamine chưa sử dụng hết.

Khoảng 06 giờ sáng ngày 02/5/2024, Trọng thức dậy đi về trước, L ngủ lại đến chiều thì thức dậy và gọi cho T1 đến để cùng sử dụng ma túy. Khoảng 19 giờ cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô biển số 48H1-287.87 quay lại phòng số 39 gặp T, L nên nằm chơi nói chuyện.

Khoảng 20 giờ 30 phút, T mang đĩa sành đang còn ma túy Ketamine và thuốc lắc sử dụng chưa hết ra để cùng nhau sử dụng. T bẻ phần viên thuốc lắc chia nhỏ thành ba phần đưa cho L, T1 mỗi người một phần để uống đồng thời cả ba cùng nhau hít Ketamine. Sau khi sử dụng hết ma túy, T, T1, L nằm chơi trong phòng.

Đến khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày, T mượn xe mô tô biển số 48H1-287.87 của T1 để đi ăn tối thì T1 đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe chở L đi ra tới đầu đường H 056 thì bị lực lượng Công an kiểm tra hành chính, T và L khai nhận vửa sử dụng ma túy trong phòng số 39 nên sau đó lực lượng Công an tiến hành khám xét khẩn cấp phòng số 39, nhà trọ Phạm Văn Q thuộc khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương phát

2

hiện, thu giữ các dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Cát thụ lý theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 đĩa sành màu trắng, 01 ống hút nhựa màu xanh; 01 đèn quay màu, đế có ghi chữ Bluetooth, 01 loa màu đỏ, 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Promax, 01 thẻ ATM số 9704365523756501019 của ngân hàng V của Nguyễn Lâm Hữu T; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Promax của Nguyễn Hồng L; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax, 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu đen biển số 48H1-287.87 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 48H1-287.87 của Thái Thanh T1.

Cáo trạng số 32/CT-VKSBC ngày 09/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo như sau:

Truy tố các bị cáo Nguyễn Lâm Hữu T, Nguyễn Hồng L, Thái Thanh T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Lâm Hữu T mức hình phạt từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Thái Thanh T1 mức hình từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị Nguyễn Hồng L mức hình phạt từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 đèn quay màu, đế có ghi chữ Bluetooth, 01 loa màu đỏ, 01 thẻ ATM số 9704365523756501019 của ngân hàng V, 01 đĩa sành màu trắng và 01 ống hút nhựa màu xanh.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Promax (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Promax (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển số 48H1-287.87 số máy: JK03E5270556, số khung: RLHJK0310MZ064754 (xe không gương bên phải; không khóa, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 48H1-287.87.

- Trong quá điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số

3

32/CT-VKSBC ngày 09/01/2025. Các bị cáo không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.

- Lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ ngày 01/5/2024 tại phòng trọ số C, nhà trọ Phạm Văn Q thuộc khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Lâm Hữu T có hành vi dùng chỗ ở của mình cùng Thái Thanh T1 góp tiền mua 02 viên thuốc lắc (ma túy loại MDMA) về cùng nhau sử dụng hết.

Khoảng 23 giờ ngày 01/5/2023 và khoảng 20 giờ 30 phút ngày 02/5/2024, tại phòng trọ số C, nhà trọ Phạm Văn Q thuộc khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Lâm Hữu T có hành vi dùng chỗ ở của mình cùng Thái Thanh T1 và Nguyễn Hồng L hùn tiền mua 02 viên thuốc lắc (ma túy loại MDMA) và nửa hộp ma túy loại Ketamine về 02 lần cùng nhau sử dụng hết. Do đó, hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hội đồng xét xử nhận định hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy, chống lại chủ trương bài trừ tệ nạn ma túy và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Về nhận thức, các bị cáo biết rõ ma túy làm hủy hoại sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại nhưng vì muốn đạt được những ảo giác, cảm giác mới lạ mà bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố các bị cáo tại Cáo trạng theo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với các bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm để giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện tình tiết định khung hình phạt, nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Xét về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Lâm Hữu T, bị cáo Thái Thanh T1 không có tiền án, tiền sự.

4

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Lâm Hữu T, bị cáo Thái Thanh T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Nguyễn Hồng L có 01 tiền án tại bản án số 196/2020/HS- ST ngày 23/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát) chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Nguyễn Lâm Hữu T có người thân thích (ông ngoại của bị cáo) là ông Lâm Hồng D1 đã góp công sức vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được nhà nước tặng bằng khen, đồng thời ông L1 hồng Diêu đã có nhiều thành tích trong thực hiện 10 năm ngày Biên phòng toàn dân, đã có thành tích góp phần 10 năm xây dựng huyện T, tỉnh Đồng Tháp, đã hoàn thành nhiệm vụ năm 1999, đã có thành tích trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc thời kỳ đổi mới (1989- 2000). Bị cáo T có người thân thích là ông Nguyễn Văn D2 (ông ngoại của mẹ bị cáo) đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối chiếu với những tình tiết tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt các bị cáo bằng hình thức phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Trong vụ án này, do Nguyễn Lâm Hữu T có vai trò chính, thực hiện nhiều lần hành vi phạm tội nên phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại. Bị cáo L thuộc trường hợp tái phạm nên cần xử mức hình phạt cáo hơn bị cáo T1. Do đó, ý kiến luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt và các vấn đề khác đối với các bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

- Đối với 01 đèn quay màu, đế có ghi chữ Bluetooth, 01 loa màu đỏ, 01 thẻ ATM số 9704365523756501019 của ngân hàng V, 01 đĩa sành màu trắng và 01 ống hút nhựa màu xanh là công cụ thực hiện tội phạm cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Promax (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 thẻ ATM số 9704365523756501019 của ngân hàng V; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Promax (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển số 48H1-287.87 số máy: JK03E5270556, số khung: RLHJK0310MZ064754 (xe không gương bên phải; không khóa, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 48H1-287.87 là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

5

[5] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lâm Hữu T, bị cáo Thái Thanh T1, bị cáo Nguyễn Hồng L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Lâm Hữu T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/5/2024.

2.2 Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Thái Thanh T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/5/2024.

2.3 Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 53, Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng L 07 (bảy) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/5/2024.

3. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dung Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 đèn quay màu, đế có ghi chữ Bluetooth, 01 loa màu đỏ, 01 thẻ ATM số 9704365523756501019 của ngân hàng V, 01 đĩa sành màu trắng và 01 ống hút nhựa màu xanh.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Promax (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Promax (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển số 48H1-287.87 số máy: JK03E5270556, số khung: RLHJK0310MZ064754 (xe không gương bên phải; không khóa, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 48H1-287.87.

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/02/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B và Công an thành phố Bến Cát; Giấy nộp tiền ngày 10/02/2025; Lệnh thanh toán ngày 10/02/2025).

4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng hồ sơ-Công an tỉnh Bình Dương (PV06);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố B;
  • - Cổng Thông tin điện tử của TANDTC (nếu có);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hồng Diễm Phúc

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 44/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Lâm Hữu T+ĐP phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger