Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-02-2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Lợi;
  2. Ông Trần Trung Hiếu.

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Bương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 31/2025/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/02/2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Diễm H, sinh năm 1998; thường trú: Số 59a/2 khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  • Bị đơn: Anh Trương Vĩnh Đ, sinh năm 1996; thường trú: Ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang; tạm trú: Số A khu tái định cư Đ, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/01/2025 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phạm Thị Diễm H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Diễm H và anh Trương Vĩnh Đ tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2019, tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25 ngày 12/3/2019. Việc kết hôn giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống tại phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được vài năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm về cuộc sống không đồng nhất dẫn đến không thể nói chuyện và chia sẽ với nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Mặc dù hai bên đã cố gắng hàn gắn, gia đình cũng đã can thiệp nhưng không giải quyết được. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Đ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị H và anh Đ không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 20/02/2025, bị đơn anh Trương Vĩnh Đ trình bày:

Về quan hệ hộ nhân: Thống nhất về thời gian chung sống và kết hôn như chị H đã trình bày. Qúa trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì, vẫn hòa thuận, chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên đến cuối tháng 11/2024 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do có lần chị H đi đám cưới có gặp người yêu cũ và còn đi karaoke với nhau, anh Đ biết được nên có ghen. Từ đó trở đi chị H thường xuyên đi chơi đến tận đêm khuya, có hôm đi tới 01 giờ sáng nên mâu thuẫn bắt đầu. Hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung. Sau đó chị H bỏ về nhà bố mẹ ở từ tháng 12/2024 cho đến nay, anh Đ có xuống nhà làm hòa nhưng chị H không đồng ý quay trở lại. Anh Đ xác định cũng có lần hai vợ chồng lời qua tiếng lại thì anh Đ có dọa giết chị H, tuy nhiên đó chỉ là lời nói bộc phát khi nóng tính. Thực tế anh Đ vẫn còn thương vợ nên mong muốn hai vợ chồng về đoàn tụ không muốn ly hôn. Anh Đ đề nghị Tòa án cho anh Đ thời hạn đến hết ngày 26/02/2025 để anh Đ thuyết phục chị H rút đơn khởi kiện, trường hợp không thuyết phục được thì anh đồng ý ly hôn với chị H.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị H và anh Đ không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Phạm Thị Diễm H và anh Trương Vĩnh Đ tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường B và được cung cấp như sau: Trước khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án, chị Phạm Thị Diễm H không có đơn yêu cầu Hội liên hiệp phụ nữ phường B tiến hành hòa giải. Hội liên hiệp phụ nữ phường B, thành phố D cũng không có thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ, chồng chị Phạm Thị Diễm H và anh Trương Vĩnh Đ. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh, chị thì Hội liên hiệp phụ nữ phường B không biết được.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng Dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Thị Diễm H và bị đơn anh Trương Vĩnh Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
  2. Về nội dung:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Diễm H và anh Trương Vĩnh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25 ngày 12/3/2019 đúng với quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
    2. Chị H và anh Đ đều xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ, chồng thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, anh Đ và chị H hiện đã ly thân. Chị H yêu cầu giải quyết ly hôn do mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, anh Đ xin thời hạn đến hết ngày 26/02/2025 để thuyết phục chị H rút đơn khởi kiện nếu không được thì anh Đ đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Đ. Nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị H yêu cầu được ly hôn với anh Đ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Đ.
    3. Về con chung: Đương sự khai không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    4. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét.
  3. Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về quan điểm giải quyết vụ án.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Diễm H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 55 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Diễm H về tranh chấp ly hôn đối với bị đơn anh Trương Vĩnh Đ.
    1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Diễm H và anh Trương Vĩnh Đ được ly hôn [Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25 do Ủy ban nhân dân phường B, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 12/3/2019].
    2. Về con chung: Đương sự khai không có con chung.
    3. Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Diễm H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007684 ngày 09/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  3. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự .

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP. Dĩ An;
  • - Chi cục THADS TP. Dĩ An;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Diễm H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger