|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2025/HS-ST |
|
|
Ngày: 27-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Hưng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Hoà và bà Lê Thị Ngọc .
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Thao - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 304/2024/TLST-HS ngày 30/12/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025 đối với các với bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn N, giới tính: Nam; sinh ngày 17/11/1990 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: C N, khu phố E, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông: Không rõ; Con bà: Nguyễn Thị Hồng T; Vợ: đã ly hôn; Con: 02 người con, sinh năm 2016 và năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2024 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Họ và tên: Nguyễn Anh T1, giới tính: Nam; sinh ngày 18/12/1991 tại tỉnh Bình Định; Nơi thường trú: Tổ D, khu phố G, phường L (nay là khu phố A, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Chỗ ở hiện nay: 6 T, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Hữu T2 và bà Nguyễn Thị Mỹ H; Vợ: Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1996; Con: 02 người con, sinh năm 2016 và năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2024 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
- Anh Trần Xuân T4, sinh năm 2003 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
Tạm trú: 0 N, phường T, TP, tỉnh Bình Định. - Chị Nông Thị H1, sinh năm 1999 (Vắng mặt).
Nơi thường trú: Ngọc Yên P, Đ, huyện N, tỉnh Kin Tum
Tạm trú: 26 N, phường N, TP, tỉnh Bình Định. - Anh Nguyễn Văn Miên E, sinh năm 1992 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ B, khu phố A, phường B, TP, tỉnh Bình Định. - Chị Nguyễn Thị Phương N1, sinh năm 2001 (Vắng mặt).
Nơi thường trú: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định.
Tạm trú: Tổ G, khu phố E, phường N, TP . tỉnh Bình Định. - Bà Hồ Thị H2, sinh năm 1977 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ A, khu phố B, phường N, TP, tỉnh Bình Định. - Bà Đỗ Thị Mộng Đ, sinh năm 1957 (Vắng mặt).
Nơi thường trú: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
Chỗ ở hiện nay: Tổ B, khu phố G, phường N, TP ., tỉnh Bình Định. - Anh Phan Đức C, sinh năm 1984 và vợ là chị Lê Thị Tường V, sinh năm 1989
Đồng cư trú: 02 N, khu phố A, phường N, TP, tỉnh Bình Định.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phan Ngọc H3, sinh năm 1978 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: I P, phường T, TP, tỉnh Bình Định. - Anh Nguyễn Đức T5, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: I P, phường T, T, tỉnh Bình Định. - Chị Phan Thị Bích T6, sinh năm 1999 (Có mặt).
Nơi cư trú: Tổ D, khu phố F, phường N, TP, tỉnh Bình Định. - Chị Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1996 (Có mặt).
Nơi thường trú: Thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.
Chỗ ở hiện nay: 6 T, phường T, TP, tỉnh Bình Định. - Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1953 (Có mặt).
Nơi cư trú: C N, phường T, TP, tỉnh Bình Định. - Anh Bùi Thành Đ1, sinh năm 1995 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ D, khu phố F, phường L, TP, tỉnh Bình Định (nay là tổ D, khu phố A, phường T, TP, tỉnh Bình Định) - Cháu Nguyễn Khôi V1, sinh ngày 19/02/2016 (Có mặt).
Người dại diện hợp pháp cho cháu V1 có bà Phan Thị Bích T6, sinh năm 1999 là mẹ cháu V1 (Có mặt).
Nơi cư trú: C N, phường T, TP ., tỉnh Bình Định.
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H4.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn N và Nguyễn Anh T1 là bạn bè và đều không có nghề nghiệp ổn định. Vì muốn có tiền tiêu xài nên N và T1 bàn bạc thống nhất cùng nhau đi dạo trên các tuyến đường ở thành phố Q, tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt mục đích để bán hoặc giữ lại để sử dụng. Từ tháng 7/2024, N và T1 thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Q, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 23 giờ ngày 04/7/2024, T1 điều khiển xe mô tô Jupiter biển số 77H4-5495 (đã chiếm đoạt ở vụ thứ nhất) chở N đi dạo tìm tài sản để trộm. Đến khoảng 23 giờ 50 cùng ngày, cả hai đi ngang nhà số E N, P. L, TP ., N thấy nhà này mở cửa nên tiến vào bên trong tìm tài sản thì thấy 01 bãi để xe có gắn camera theo dõi. T1 lấy áo che camera để tránh bị phát hiện. Qua kiểm tra, N và T1 phát hiện xe mô tô Yamaha Sirius màu đen, biển số 77E1-810.98 của anh Trần Xuân T4 (Sinh năm: 2003; trú: Thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định) không khóa cổ nên khoảng 02 giờ 20 phút ngày 05/7/2024, N lén lút dắt xe mô tô này ra đường. N ngồi lên xe 77E1-810.98 điều khiển tay lái để T1 điều khiển xe 77H4-5495 dùng chân đẩy xe 77E1-810.98 tẩu thoát. N và T1 đem xe mô tô Yamaha Sirius màu đen, biển số 77E1-810.98 về nhà T1 cất giấu.
Sau đó, cả hai cắt chìa khoá mới cho xe này để sử dụng. Lợi dụng lúc T1 vắng mặt, N lấy chìa khoá mở cốp xe mô tô 77E1-810.98 thì phát hiện 01 ví da có chứa số tiền 4.150.000 đồng và 01 giấy đăng ký xe mô tô nên N cất giấu, hưởng lợi riêng số tiền này. Còn ví da, giấy đăng ký xe N vứt bỏ ngoài đường (không thu giữ được). Vì không có phương tiện để đi lại nên cả hai quyết định giữ lại xe mô tô này để sử dụng, T1 tháo biển số 77E1-810.98 cất giấu, gắn biển số 77F5-9208 (do N mua thông qua mạng xã hội Facebook) vào xe này để tiếp tục sử dụng.
Ngày 10/9/2024, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP . kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 77E1-810.98, số khung RLCUE3710NY353535, số máy E32VE615447, trị giá 16.000.000 đồng. (Bút lục số 459)
Lần thứ hai: Khoảng 0 giờ ngày 06/7/2024, T1 điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius (đã chiếm đoạt ở vụ thứ nhất), gắn biển số 77F5-9208 chở N đi dạo tìm tài sản để trộm. Đến khoảng 01 giờ 30 cùng ngày, cả hai thấy xe mô tô Sirius, màu xanh xám, biển số 82E1-271.94 của chị Nông Thị H1 (Sinh năm: 1999; trú: Ngọc Yên P, Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum) dựng tại hẻm B N, P. N, TP . không có người trông coi. Cả hai tiến tới kiểm tra thì thấy xe không khoá cổ. T1 ra ngoài cảnh giới còn N tiến đến, lén lút dắt xe đi. Sau khi N ngồi lên xe mô tô 82E1-271.94 thì T1 điều khiển xe Sirius gắn biển số 77F5-9208 dùng chân đẩy xe mô tô Sirius biển số 82E1-271.94 tẩu thoát. Cả hai thống nhất không bán và giữ lại để sử dụng làm phương tiện đi lại nên tháo biển số 82E1-271.94 gắn biển số 77L1-848.18 (do N mua thông qua mạng xã hội Facebook) rồi tiến hành cắt chìa khóa mới cho xe.
Ngày 03/8/2024, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP . kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius-BGY3, màu sơn xanh xám, số máy E32VE861301, số khung: RLCUE3740RY211987, biển số 82E2-271.94, trị giá 21.000.000 đồng. (Bút lục số 482)
Lần thứ ba: Khoảng 23 giờ ngày 06/7/2024, T1 điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius (đã chiếm đoạt ở vụ thứ nhất), gắn biển số 77F5-9208, chở N đi dạo tìm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 23 giờ 55 cùng ngày, N phát hiện xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 77L1-133.11 của anh Nguyễn Văn Miên E (Sinh năm: 1992; trú: Tổ 2, KP1, P. B, TP .) đang được dựng trên vỉa hè Lô B, đường bê tông nội bộ thuộc tổ G, KP4, P. N, TP . (đoạn phía sau Trường Đại học Q) không ai trông coi nên nói cho T1 biết. T1 đứng cảnh giới còn N tiến đến thì thấy xe không khoá cổ. N lén lút dắt xe rời đi rồi dùng chìa khoá xe mang theo (loại khóa tương tự các khóa dòng xe Sirius), cắm vào ổ khoá, khởi động được xe rồi tẩu thoát cùng T1.
N và T1 tháo biển số 77L1-133.11 để gắn vào xe mô tô Yamaha Sirius (chiếm đoạt ở vụ thứ vụ thứ nhất), cất giấu biển số 77F5-9208. Sau đó, N bán xe mô tô S đã chiếm đoạt của anh Miên E cho một người nam (không rõ lai lịch) thông qua mạng xã hội Facebook với giá 3.500.000 đồng (không thu hồi được xe). Số tiền có được, N và T1 chia đôi mỗi người lấy 1.750.000 đồng và đã tiêu xài hết.
Ngày 10/9/2024, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP . kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen trắng, biển số 77L1-133.11, số khung 640BY-638841, số máy 5C64-638843, trị giá 8.000.000 đồng. (Bút lục số 459)
Lần thứ tư: Khoảng 0 giờ ngày 12/7/2024, T1 điều khiển xe mô tô Sirius (chiếm đoạt ở vụ thứ vụ thứ nhất), gắn biển số 77L1-133.11 chở N đi dạo tìm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 0 giờ 50 cùng ngày, cả hai đi ngang nhà trọ Anh Đào thuộc tổ G, KP5, P. N, TP . thì thấy cổng trọ khép hờ không khoá nên cả hai vào bên trong dọc theo hành lang. Đến cuối hành lang, chỗ để xe của những người thuê trọ, cả hai phát hiện có 02 camera gắn trên tường nên mỗi người lấy 01 miếng giẻ lau phủ lên camera để tránh bị ghi hình. N và T1 phát hiện phòng trọ sát bãi để xe của chị Nguyễn Thị Phương N1 (Sinh năm: 2001; trú: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định) có khóa cửa bằng 01 ổ khóa mã số nhỏ, màu trắng. T1 dùng kìm (T1 mua, mang theo người từ trước) cắt ổ khoá phòng chị Phương N1, vào bên trong tìm được 01 chìa khoá xe mô tô nên mang ra bãi để xe của nhà trọ, cắm vào từng xe thì mở khoá được xe mô tô Honda Wave, biển số 77N7-1257, màu đen đỏ của chị N1. T1 lén dắt xe này ra ngoài, N phụ đẩy phía sau. Sau đó, T1 điều khiển xe Sirius gắn biển số 77L1-133.11, còn N lái xe mô tô Wave 77N7-1257 cùng nhau tẩu thoát. Trên đường đi, T1 vứt bỏ kìm dùng để cắt ổ khóa phòng chị N1. N bán xe mô tô Honda Wave, biển số 77N7-1257 cho một người nam (không rõ lai lịch) thông qua mạng xã hội Facebook với giá 2.000.000 đồng (không thu hồi được xe). Số tiền có được, N và T1 chia đôi mỗi người lấy 1.000.000 đồng và đã tiêu xài hết.
Ngày 05/9/2024, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP . kết luận: 01 xe mô tô Honda Wave, màu đen đỏ, biển số 77N7-1257, số khung BY100659, số máy JC43E-6014330 trị giá 6.000.000 đồng. (Bút lục số 487)
Lần thứ năm: Khoảng 11 giờ ngày 13/7/2024, T1 điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius (chiếm đoạt ở vụ thứ vụ thứ nhất), gắn biển số 77L1 - 133.11 chở N đi dạo tìm tài sản để trộm cắp. Khoảng 10 phút sau, N phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Well, biển số 77F9-7894, kiểu dáng Wave, màu xanh của bà Hồ Thị H2 (Sinh năm: 1977; trú: Tổ 14, KP2, P. N, TP .) dựng trước vỉa hè nhà số H H, P. Đ, TP ., không ai trông coi nên nói cho T1 biết cùng đến trộm xe. Khi đến kiểm tra, N thấy xe không khoá cổ nên N dùng chìa khóa xe mang theo trong người để khởi động xe còn T1 đứng tại chỗ cảnh giới. N điều khiển xe mô tô Well, biển số 77F9-7894, T1 điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius (chiếm đoạt ở vụ thứ vụ thứ hai), gắn biển số 77L1 - 133.11 cùng nhau tẩu thoát. N bán xe Well biển số 77F9-7894 này cho một người nam (không rõ lai lịch) thông qua mạng xã hội Facebook với giá 1.700.000 đồng (không thu hồi được xe). Số tiền có được, N và T1 chia đôi mỗi người lấy 850.000 đồng và đã tiêu xài hết.
Ngày 10/9/2024, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP . kết luận: 01 xe mô tô hiệu Well, kiểu dáng Wave, màu xanh, biển số 77F9-7894, số khung Y0870661, số máy Y0195892, trị giá 3.000.000 đồng. (Bút lục số 459)
Lần thứ sáu: Khoảng 14 giờ ngày 13/7/2024, T1 điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius (chiếm đoạt ở vụ thứ vụ thứ nhất), gắn biển số 77L1 - 133.11 chở N đi dạo tìm tài sản để trộm cắp. Cả hai cùng mua 01 cái kìm cộng lực tại cửa hàng thuộc P. T, TP . (không xác định được địa chỉ cụ thể) để hỗ trợ khi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 15 giờ 20 cùng ngày, N và T1 đi ngang qua nhà bà Đỗ Thị Mộng Đ (Sinh năm: 1957; HKTT: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định) tại tổ B, KP7, P. N, TP . thấy không có ai ở nhà nên dùng kìm cộng lực cắt 04 song inox cửa sổ. Tiếp đó, N leo vào bên trong nhà qua ô cửa sổ, đến mở cửa sau nhà cho T1 vào. T1 vứt kìm cộng lực ở phía sau nhà bà Đ rồi cùng N vào bên trong lục tìm tài sản. N phát hiện và chiếm đoạt 01 điện thoại Samsung Galaxy A50s, 01 vòng đeo tay màu xanh nhưng không nói cho T1 biết. Sau đó, N và T1 thấy tivi hiệu LG, máy giặt hiệu Panasonic, quạt hơi nước hiệu Makano, loa hiệu Enkor trong nhà bà Đ nên bàn nhau chiếm đoạt về sử dụng. N, T1 dùng xe mô tô Yamaha S (chiếm đoạt ở vụ thứ vụ thứ nhất), gắn biển số 77L1 - 133.11 chở đi 03 lượt, đem các tài sản trên đến để tại bãi đất trống trước Kho xăng dầu Q, đường T, P. N, TP . Sau khi bàn bạc, T1 đi tìm và thuê một người đàn ông lái xe lôi (không rõ lai lịch) đến bãi đất trống chở tivi và loa nêu trên về nhà T1, chở máy giặt và quạt hơi nước về nhà N để sử dụng. Ngày 18/7/2024, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP . kết luận:
- 01 tivi hiệu LG, màu đen, có model: 43UH617TTB; loại 43 inch, trị giá 2.800.000 đồng.
- 01 loa hiệu Enkor, màu đen, có model: L1218K, trị giá 1.500.000 đồng.
- 01 quạt hơi nước hiệu Makano, màu trắng xanh, có số model: MKA-05000C, trị giá 2.000.000 đồng.
- 01 máy giặt hiệu Panasonic, màu xám, có số model: NA-F76VS9, đã qua sử dụng, loại 7,6 kg, trị giá 2.500.000 đồng.
- 01 điện thoại di động S1 A50s, màu trắng, số Imei 1: 358193100890095, số Imei 2: 35819410089009, trị giá 4.000.000 đồng.
Ngày 30/8/2024, Phân viện khoa học hình sự tại TP . kết luận giám định: 01 vòng đeo tay màu xanh, tại các khớp nối được bọc kim loại màu vàng. Phần kim loại màu vàng tại các khớp nối có kim loại vàng (Au), đồng (Cu) và kẽm (Zn); hàm lượng của từng kim loại như sau: vàng là 70,2%; đồng là 24,9%; kẽm là 4,9%; tổng khối lượng mẫu là 29,38gam (tính cả phần kim loại màu vàng và phần chất màu xanh).
Ngày 11/10/2024, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP . kết luận: 01 vòng đeo tay màu xanh, tại các khớp nối được bọc kim loại màu vàng trị giá 4.000.000 đồng.
Lần thứ bảy: Khoảng 00 giờ ngày 14/7/2024, T1 điều khiển xe Jupiter, biển số 77H4-5495 chở N đi tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đi, cả hai ghé cửa hàng bán công cụ cơ khí thuộc P. T, TP . (không xác định được địa chỉ cụ thể) mua 01 cái kìm cộng lực dùng khi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 02 giờ ngày 14/7/2024, N lái xe Jupiter 77H4-5495 chở T1 đi ngang nhà số B N, tổ A, KP1, P. N, TP . của vợ chồng anh Phan Đức C (Sinh năm: 1984) và chị Lê Thị Tường V (Sinh năm: 1989) thì thấy nhà đang khoá cửa bằng ổ khoá ngoài nên biết bên trong không có người. Cả hai dùng kìm cộng lực mang theo cắt bản lề gắn ổ khoá cửa rồi vào bên trong lục tìm tài sản. Tại tầng trệt, N và T1 phát hiện và chiếm đoạt 01 điện thoại Nokia model 1280, màu đen, 01 tượng gỗ khắc hình con cóc, 01 đồng hồ đeo tay hiệu Fossil và 01 đồng hồ đeo tay hiệu Casio. Sau khi tìm xong tầng trệt, cả hai lên tầng 01, tìm kiếm trong các hộc của 01 tủ gỗ quần áo màu nâu và 01 tủ nhựa màu vàng trắng đặt tại hành lang, thì phát hiện và chiếm đoạt các tài sản gồm:
- 01 hộp nhựa nhỏ màu cam bên trong chứa: 02 nhẫn, bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc “1C Mỹ Long 9999 Qui Nhơn”; 01 nhẫn, bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc “Thanh Dung 2 9999 Vi Tính 5P”; 01 nhẫn, bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc “5P HƯƠNG BÌNH 9999”.
- 01 miếng hình bầu dục, bằng kim loại màu vàng, mặt trước có họa tiết hình thần tài, mặt sau có khắc “2019”, “Tài”, “SJC 9999”.
- 01 túi vải màu nâu bên trong chứa: 01 nhẫn, bằng kim loại màu vàng, có đính hạt chất màu đỏ; 01 nhẫn, bằng kim loại màu vàng, có đính hạt chất màu trắng; 01 dây chuyền, bằng kim loại màu vàng, kiểu xoắn lá; 01 lắc đeo tay, bằng kim loại màu vàng, có đính nhiều hạt chất màu trắng, mặt trước có chữ “LV”.
- 01 hộp nhựa màu đỏ bên trong chứa: 02 vòng đeo tay, bằng kim loại màu vàng, có đính hạt chất màu trắng, mặt trong có khắc “Cartier”; 01 lắc đeo tay kiểu mắt xích, bằng bạc; 01 dây chuyền, bằng kim loại màu bạc, gắn mặt dây chuyền hình bé trai; 01 nhẫn bạc nhỏ; 01 dây chuyền màu vàng hồng, kiểu mắt xích nối lại với nhau, gắn mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng hồng.
Sau khi chiếm đoạt tài sản rồi cùng nhau tẩu thoát, T1 giữ lại sử dụng các tài sản gồm tượng gỗ hình con cóc; đồng hồ Casio; 01 lắc đeo tay kiểu mắt xích, bằng bạc; 01 nhẫn bạc nhỏ. Còn N giữ lại sử dụng điện thoại Nokia 1280; đồng hồ F. Sau đó, N, T1 vứt bỏ điện thoại Nokia 1280, 01 lắc đeo tay kiểu mắt xích, bằng bạc, 01 nhẫn bạc nhỏ cùng với kìm cộng lực mà N, T1 sử dụng khi trộm cắp nên không thu giữ được.
Số tài sản còn lại được N và T1 đem bán lấy tiền, cụ thể:
- Khoảng 08 giờ ngày 14/7/2024, N, T1 đến tiệm V3, địa chỉ 127 đường L, P. T, TP . bán cho anh Nguyễn Đức T5 (sinh năm: 1984 – chủ tiệm) 01 sợi dây chuyền vàng tây kiểu xoắn lá, 01 nhẫn vàng có đính hột màu trắng, 01 nhẫn vàng tango có đính hột màu đỏ được 6.080.000 đồng.
- Khoảng 08 giờ 20 cùng ngày, N, T1 đến tiệm V3, địa chỉ I P, P. T, TP . bán cho ông Nguyễn Ngọc H5 (sinh năm: 1978; chủ tiệm) 01 thẻ vàng SJC có hình ông thần tài được 7.460.000 đồng.
- Khoảng 12 giờ 30 cùng ngày, T1 đến tiệm V3 bán cho ông H5 02 nhẫn tròn 9999 (01 chiếc 01 chỉ và 01 chiếc 0,5 phân) được 11.190.000 đồng.
- Khoảng 15 giờ cùng ngày, N đi một mình đến tiệm V3 bán cho ông H5 02 nhẫn tròn 9999 (01 chiếc 01 chỉ và 01 chiếc 0,5 phân) được 11.190.000 đồng.
Tổng số tiền cả hai nhận được sau 04 lần bán là 35.920.000 đồng, N và thảo chia đôi mỗi người nhận 17.960.000 đồng. Sau khi có tiền, N, T1 đến tiệm Đ2 ở H N, TP . do Bùi Thành Đ1 (Sinh năm: 1995: trú: Tổ 44, KP6, P. L, TP . – chủ tiệm) mua điện thoại. N mua điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu vàng với giá 17.090.000 đồng, 870.000 đồng còn lại N tiêu xài cá nhân hết. T1 mua 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu trắng giá 13.690.000 đồng. T1 tiêu xài cá nhân hết 2.570.000 đồng, còn dư lại 1.700.000 đồng.
- Khoảng 08 giờ ngày 15/7/2024, T1 tiếp tục đến tiệm V3 để bán cho ông H5 01 lắc đeo tay vàng, có chữ “LV”, được 12.000.000 đồng. Số tiền này T1 còn giữ, chưa kịp chia cho N.
Số trang sức còn lại, tiệm V3 không mua nên N giữ lại cho vợ cũ của N là Phan Thị Bích T6 (Sinh năm: 1999; trú: Tổ 43, KP6, P. N, TP .) 01 cái vòng đeo tay C1 và cho con trai tên Nguyễn Khôi V1 (Sinh năm: 2016; trú: C N, phường T, TP .) 01 dây chuyền, bằng bạc, gắn mặt dây chuyền hình bé trai để đeo.
Ngày 18/7/2024, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP . kết luận:
- 01 tượng gỗ nu nghiến, hình dáng con cóc, kích thước (20x20x12)cm, trị giá 700.000 đồng.
- 01 đồng hồ bằng kim loại màu bạc, hiệu Casio, mã số: EFR-526J trị giá 800.000 đồng.
- 01 đồng hồ bằng kim loại màu vàng, dây da màu nâu đen, hiệu Fossil, mã số: ME3027-111607, trị giá 1.200.000 đồng.
Ngày 30/8/2024, Phân viện khoa học hình sự tại TP . kết luận giám định:
- 01 sợi dây chuyền, bằng kim loại màu bạc, có kim loại sắt (F) và đồng (Cu); hàm lượng trung bình của từng kim loại như sau: sắt là 79,2%; đồng là 20,8%; khối lượng mẫu là 4,84gam.
- 01 mặt dây chuyền hình bé trai, có kim loại đồng (Cu) và kẽm (Zn); hàm lượng của từng kim loại như sau: đồng là 67,5%; kẽm là 32,5%; khối lượng mẫu là 1,81gam.
- 01 vòng đeo tay, bằng kim loại màu vàng, có đính hạt chất màu trắng, mặt trong có khắc “Cartier”; có kim loại sắt (F), crom (C), niken (N2) và mangan (Mn); hàm lượng của từng kim loại như sau: sắt là 72,1%; crom là 17,8%; niken là 8,7% và mangan là 1,4%; tổng khối lượng mẫu là 18,48gam (tính cả khối lượng các hạt chất màu trắng).
- 01 chiếc nhẫn, bằng kim loại màu vàng, có đính hạt chất màu đỏ; có kim loại vàng (A), đồng (Cu) và bạc (Ag); hàm lượng của từng kim loại như sau: vàng là 53,3%; đồng là 37,4%; bạc là 9,3%, tổng khối lượng mẫu là 5,05gam (tính cả khối lượng hạt chất màu đỏ).
- 01 chiếc nhẫn, bằng kim loại màu vàng, có đính hạt chất màu trắng; có kim loại vàng (A), đồng (Cu) và bạc (Ag); hàm lượng của từng kim loại như sau: vàng là 65,9%; đồng là 17,5%; bạc là 16,6%; tổng khối lượng mẫu là 1,63gam (tính cả khối lượng hạt chất màu trắng).
- 01 sợi dây chuyền, bằng kim loại màu vàng, kiểu xoắn lá; có kim loại vàng (A), đồng (Cu) và bạc (Ag); hàm lượng trung bình của từng kim loại như sau: vàng là 61,0%; đồng là 23,5%; bạc là 15,5%; khối lượng mẫu là 2,05gam.
- 01 vòng đeo tay, bằng kim loại màu vàng, có đính hạt chất màu trắng, mặt trong có khắc “Cartier”; có kim loại sắt (F), crom (C), niken (N2) và mangan (Mn); hàm lượng của từng kim loại như sau: sắt là 72,1%; crom là 17,8%; niken là 8,7% và mangan là 1,4%; tổng khối lượng mẫu là 19,29gam (tính cả khối lượng các hạt chất màu trắng).
- 01 sợi dây chuyền, bằng kim loại màu vàng hồng, kiểu mắt xích nối lại với nhau; có kim loại đồng (Cu), kẽm (Z) và niken (Ni); hàm lượng trung bình của từng kim loại như sau: đồng là 89,9%; kẽm là 9,3%; niken là 0,8%; khối lượng mẫu là 2,72gam.
- 01 mặt dây chuyền, bằng kim loại màu vàng hồng; có kim loại đồng (Cu) và kẽm (Zn); hàm lượng của từng kim loại như sau: đồng là 70,7%; kẽm là 29,3%; khối lượng mẫu là 2,71gam.
- 02 chiếc nhẫn, bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc “1C Mỹ Long 9999 Qui Nhơn”; là kim loại vàng (Au); hàm lượng kim loại vàng trung bình là 99,9%; tổng khối lượng mẫu là 7,50gam.
- 01 chiếc nhẫn, bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc “Thanh Dung 2 9999 Vi Tính 5P”; là kim loại vàng (Au); hàm lượng kim loại vàng là 99,9%; khối lượng mẫu là 1,87gam.
- 01 chiếc nhẫn, bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc “5P HƯƠNG BÌNH 9999”; là kim loại vàng (Au); hàm lượng kim loại vàng là 99,9%; khối lượng mẫu là 1,87gam.
- 01 miếng hình bầu dục, bằng kim loại màu vàng, mặt trước có họa tiết hình thần tài, mặt sau có khắc “2019”, “Tài”, “SJC 9999”; là kim loại vàng (Au); hàm lượng kim loại vàng là 99,9%; khối lượng mẫu là 3,75gam.
- 01 lắc đeo tay, bằng kim loại màu vàng, có đính nhiều hạt chất màu trắng, mặt trước có chữ “LV”; có kim loại vàng (A), đồng (Cu) và bạc (Ag); hàm lượng trung bình của từng kim loại như sau: vàng là 61,0%; đồng là 20,0%; bạc là 19,0%; tổng khối lượng mẫu là 11,60gam (tính cả khối lượng các hạt chất màu trắng).
Ngày 11/10/2024, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP . kết luận:
- 01 sợi dây chuyền, bằng kim loại màu bạc trị giá 300.000 đồng.
- 01 mặt dây chuyền hình bé trai trị giá 50.000 đồng.
- 01 vòng đeo tay, bằng kim loại màu vàng, có đính hạt chất màu trắng, mặt trong có khắc “Cartier” trị giá 200.000 đồng.
- 01 chiếc nhẫn, bằng kim loại màu vàng, có đính hạt chất màu đỏ trị giá 4.000.000 đồng
- 01 chiếc nhẫn, bằng kim loại màu vàng, có đính hạt chất màu trắng trị giá 2.800.000 đồng.
- 01 sợi dây chuyền, bằng kim loại màu vàng, kiểu xoắn lá trị giá 3.200.000 đồng.
- 01 vòng đeo tay, bằng kim loại màu vàng, có đính hạt chất màu trắng, mặt trong có khắc “Cartier” trị giá 200.000 đồng.
- 01 sợi dây chuyền, bằng kim loại màu vàng hồng, kiểu mắt xích nối lại với nhau trị giá 70.000 đồng.
- 01 mặt dây chuyền, bằng kim loại màu vàng hồng trị giá 20.000 đồng.
- 02 chiếc nhẫn, bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc “1C Mỹ Long 9999 Q” trị giá 15.200.000 đồng.
- 01 chiếc nhẫn, bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc “Thanh Dung 2 9999 Vi Tính 5P” trị giá 3.800.000 đồng.
- 01 chiếc nhẫn, bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc “5P HƯƠNG BÌNH 9999” trị giá 3.800.000 đồng.
- 01 miếng hình bầu dục, bằng kim loại màu vàng, mặt trước có họa tiết hình thần tài, mặt sau có khắc “2019”, “T7”, “SJC 9999” trị giá 7.600.000 đồng.
- 01 lắc đeo tay, bằng kim loại màu vàng, có đính nhiều hạt chất màu trắng, mặt trước có chữ “LV” trị giá 12.500.000 đồng.
- 01 lắc đeo tay kiểu mắt xích, bằng bạc trị giá 200.000 đồng.
- 01 chiếc nhẫn loại nhỏ, bằng bạc trị giá 100.000 đồng.
- 01 điện thoại Nokia, màu đen, model 1280 trị giá 100.000 đồng.
Ngoài ra, vào một đêm ngày đầu tháng 7/2024, T1 và N điều khiển xe mô tô mượn của một người khác (không rõ lai lịch) đi dạo trên đường H, TP .. Khi cả hai đi đến một con hẻm thuộc đường H, đoạn gần ngã ba P, P. T, TP . thì thấy xe mô tô (Yamaha Jupiter, gắn biển số 77H4 – 5495, màu đen, có số máy: 2S11-029585, số khung: RLCJ2S1106Y029585) đang dựng, không khoá cổ xe, không người trông coi. T1 xuống xe đứng cảnh giới gần đó còn N đi đến dắt xe đi. Tiếp đó, N, T1 dùng chìa khoá mang theo sẵn, cắm vào ổ khoá điện, khởi động xe tẩu thoát. Sau đó, N, T1 giữ lại xe này để sử dụng chung.
Qua tra cứu, biển số 77H4 – 5495 thuộc về xe mô tô nhãn hiệu Yamen, số máy FMHD004552, số khung 0B5TT004552 do ông Lê Công L (Sinh năm: 1984; Trú: KV7, phường N, thành phố Q) đứng tên chủ sở hữu. Ông L khai nhận đã bán xe này cho một người phụ nữ không rõ lai lịch vào năm 2018.
Đối với xe Yamaha Jupiter, màu đen, có số máy: 2S11-029585, số khung: RLCJ2S1106Y029585 (qua giám định là số khung, số máy nguyên thuỷ) không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, không có trong cơ sở dữ liệu tra cứu vật chứng. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an T9 đã tiến hành xác minh và thông báo tìm bị hại nhưng đến nay vẫn không xác định được người bị hại.
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an T9 thu giữ và trả lại:
- 01 quạt hơi nước hiệu Makano màu trắng xanh; 01 máy giặt hiệu Panasonic màu xám, có số model: NA-F76VS9, loại 7,6kg; 01 điện thoại di động SamSung Galaxy A50s, màu trắng; 01 vòng đeo tay màu xanh, tại các khớp nối được bọc kim loại màu vàng; 01 loa màu đen hiệu Enkor; 01 tivi hiệu LG màu đen, có model: 43UH617TTB, loại 43 inch cho bị hại Đỗ Thị Mộng Đ.
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, có số khung: RLCUE3710NY353535, số máy: E32VE615447 và biển số 77E1-810.98 cho bị hại Trần Xuân T4.
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xanh xám, số khung RLCUE3740RY211987, số máy E32VE861301 và biển số 82E1-271.94 cho bị hại Nông Thị H1.
- 01 vòng đeo tay, bằng kim loại màu vàng, có đính hạt chất màu trắng, mặt trong có khắc “Cartier”; 01 dây chuyền, bằng kim loại màu vàng hồng, kiểu mắt xích nối lại với nhau, gắn mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng hồng; 01 đồng hồ bằng kim loại màu vàng, dây da màu nâu đen, hiệu Fossil; 01 tượng gỗ nu nghiến, hình dáng con cóc; 01 đồng hồ bằng kim loại màu bạc, hiệu Casio; 02 nhẫn, bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc “1C Mỹ Long 9999 Qui Nhơn”; 01 nhẫn, bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc “Thanh Dung 2 9999 Vi Tính 5P"; 01 nhẫn, bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc “5P HƯƠNG BÌNH 9999”; 01 miếng hình bầu dục, bằng kim loại màu vàng, mặt trước có họa tiết hình thần tài, mặt sau có khắc “2019”, “Tài”, “SJC 9999”; 01 (một) lắc đeo tay, bằng kim loại màu vàng, có đính nhiều hạt chất màu trắng, mặt trước có chữ “LV”; 01 nhẫn, bằng kim loại màu vàng, có đính hạt chất màu đỏ; 01 nhẫn, bằng kim loại màu vàng, có đính hạt chất màu trắng; 01 dây chuyền, bằng kim loại màu vàng, kiểu xoắn lá; 01 vòng đeo tay, bằng kim loại màu vàng, có đính hạt chất màu trắng, mặt trong có khắc “Cartier”; 01 dây chuyền, bằng kim loại màu bạc, gắn mặt dây chuyền hình bé trai cho bị hại Phan Đức C.
Hiện Cơ quan CSĐT Công an T9 hiện đang tạm giữ:
- 01 cái kìm cộng lực kích thước (59x9) cm, tay cầm màu đen, thân màu xanh, lưỡi cắt có vết vỡ kim loại kích thước (2,7x1)cm.
- 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu vàng, số IMEI 35396781270 2804.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max màu trắng, dung lượng 128 GB, có số Imei: 352048880113546.
- 01 lắc đeo tay, bằng kim loại màu vàng, kiểu mắt xích hình chữ nhật nối lại với nhau, có đính nhiều hạt chất màu trắng.
- Số tiền 13.700.000 đồng.
- 06 đĩa DVD chứa các video quay được hành vi phạm tội của bị can Nguyễn Văn N và Nguyễn Anh T1.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an T9 chưa xác định được chủ sở hữu của biển số 77L1-848.18 và biển số tô 77F5-9208, các biển số xe này cũng không có trong dữ liệu vật chứng; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter, màu đen, gắn biển số 77H4 - 5495, có số máy: 2S11-029585, số khung: RLCJ2S1106Y029585, chưa xác minh được nhân thân, lai lịch của bị hại. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an T9 tiếp tục xác minh theo quy định.
Về dân sự:
- Bị hại Trần Xuân T4 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và nhận bồi thường số tiền 4.150.000 đồng nên không có yêu cầu gì khác về dân sự.
- Bị hại Nông Thị H1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không có yêu cầu gì khác về dân sự.
- Bị hại Nguyễn Văn Miên E đã nhận bồi thường số tiền 8.000.000 đồng nên không có yêu cầu gì khác về dân sự.
- Bị hại Nguyễn Thị Phương N1 đã nhận bồi thường số tiền 6.000.000 đồng nên không có yêu cầu gì khác về dân sự.
- Bị hại Hồ Thị H2 đã nhận bồi thường số tiền 3.000.000 đồng nên không có yêu cầu gì khác về dân sự.
- Bị hại Đỗ Thị Mộng Đ đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không có yêu cầu gì khác về dân sự.
- Bị hại Phan Đức C và Lê Thị Tường V đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt. Ngoài ra, bị hại C, V yêu cầu bồi thường số tiền 64.200.000 đồng.
- Người liên quan Nguyễn Đức T5 đã nhận bồi thường số tiền 6.080.000 đồng nên không có yêu cầu gì khác về dân sự.
- Người liên quan Nguyễn Ngọc H5 đã nhận bồi thường số tiền 41.840.000 đồng nên không có yêu cầu gì khác về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSQN ngày 30/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo Cáo trạng.
Về trách nhiệm hình sự.
Áp dụng: Điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; xử phạt bị cáo bị cáo Nguyễn Anh T1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự:
- Các bị hại Trần Xuân T4, Nông Thị H1, Nguyễn Văn Miên E, Nguyễn Thị Phương N1, Hồ Thị H2, Đỗ Thị Mộng Đ, người liên quan Nguyễn Đức T5, Nguyễn Ngọc H5 đều đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
- Riêng yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại Phan Đức C và Lê Thị Tường V số tiền 64.200.000 đồng, đề nghị công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 bồi thường cho anh C, chị V số tiền 64.200.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ đối với kìm cộng lực và lắc đeo tay, kim loại màu vàng.
- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 13 Promax, 01 điện thoại Iphone 12 Promax và số tiền 13.700.000 đồng.
Bị cáo tự bào chữa: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T9, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà nên Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định: Do không có việc làm, cần tiền tiêu xài cá nhân nên các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 đã bàn bạc với nhau, cùng nhau đi trộm cắp lấy tài sản đem bán chia nhau tiêu xài. Các bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện đi dạo trên các tuyến đường ở thành phố Q tìm xem người dân để xe mô tô sở hở thì lén lút chiếm đoạt, hoặc phát hiện nhà của người dân đi vắng đóng cửa, các bị cáo dùng kìm mang theo cắt khoá đột nhập vào bên trong trộm cắp tài sản. Với thủ đoạn trên, trong thời gian từ ngày 04/7/2024 đến ngày 14/7/2024 các bị cáo đã chiếm đoạt 05 xe mô tô và nhiều tài của các bị hại có tổng trị giá 131.790.000 đồng.
Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 có đủ sức khoẻ năng lực nên phải biết hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam, xem thường pháp luật và quyền sở hữu tài sản của người khác, các bị cáo lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản đã thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo không có việc làm lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống, lấy tài sản chiếm đoạt làm nguồn sống chính, đồng thời các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên và mỗi lần đều cấu thành tội phạm; tài sản các bị cáo chiếm đoạt có tổng trị giá 131.790.000 đồng. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” với các tình tiết định khung “Có tính chất chuyên nghiệp” và “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Trong vụ án có 02 bị cáo tham gia, nhưng với vai trò đồng phạm giản đơn và cùng thực hiện hành vi phạm tội, nên phải xử phạt các bị cáo tương xứng với mỗi hành vi mà các bị cáo đã gây ra.
[3] Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 thì thấy rằng:
4.1 Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, trước đây chưa vi phạm gì.
4.2 Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 đã 07 lần chiếm đoạt tài sản của các bị hại, mỗi lần đều cấu thành tội phạm, nên hành vi phạm tội của các bị cáo với tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
4.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, các bị cáo đã bồi thường cho bị hại để khắc phục hậu quả, được các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Gia đình bị cáo Nguyễn Anh T1 có công cách mạng, cha ruột bị cáo tham gia cách mạng được hưởng chế độ thương binh, được Hội đồng xét xử xem đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự áp dụng cho bị cáo. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để các bị cáo an tâm cải tạo tốt,
[5] Về bồi thường thiệt hại:
5.1 Đối với các bị hại Trần Xuân T4, Nông Thị H1, Nguyễn Văn Miên E, Nguyễn Thị Phương N1, Hồ Thị H2, Đỗ Thị Mộng Đ không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
5.2 Gia đình các bị cáo đã hoàn trả cho anh A Nguyễn Đức T5 số tiền 6.080.000 đồng, hoàn trả cho anh Nguyễn Ngọc H5 số tiền 41.840.000, anh T5 và anh H5 không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.
5.3 Các bị hại Phan Đức C và Lê Thị Tường V đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt. Tuy nhiên anh C, chị V2 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 64.200.000 đồng là tài sản mà chị V, anh C khi bị mất trộm chưa thu hồi gồm: 01 lắc đeo tay bằng bạc; 01 nhẫn loại nhỏ, bằng bạc; 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 1280, đã qua sử dụng; các tài sản bị mất nhưng chưa có căn cứ chứng minh các bị cáo trộm cắp gồm: 08 nhẫn, bằng vàng 9999 (24K), trọng lượng 01 chỉ/chiếc; 01 dây chuyền kiểu mắt xích, bằng vàng tây (18K), trọng lượng 01 chỉ, gắn mặt dây chuyền có đính hột màu trắng. Mặc dù các bị cáo không thừa nhận chiếm đoạt 08 nhẫn, bằng vàng 9999 (24K), trọng lượng 01 chỉ/chiếc; 01 dây chuyền kiểu mắt xích, bằng vàng tây (18K), trọng lượng 01 chỉ, gắn mặt dây chuyền có đính hột màu trắng, tuy nhiên tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 thoả thuận các bị cáo sẽ bồi thường cho bị hại Phan Đức C, Lê Thị Tường V số tiền 35.500.000 đồng (được trừ đi số tiền 13.700.000 đồng đang thu giữ và 02 điện thoại di dộng có trị giá 15.000.000 đồng giao cho các bị hại được quyền sở hữu), chia phần mỗi bị cáo bồi thường 17.750.000 đồng. Xét thấy sự thoả thuận bồi thường của các bên không trái với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[6] Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của các bị cáo: 01 cái kìm cộng lực kích thước (59x9) cm, tay cầm màu đen, thân màu xanh, lưỡi cắt có vết vỡ kim loại kích thước (2,7x1)cm; 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu vàng, số IMEI 35396781270 2804; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max màu trắng, dung lượng 128 GB, có số Imei: 352048880113546; 01 lắc đeo tay, bằng kim loại màu vàng, kiểu mắt xích hình chữ nhật nối lại với nhau, có đính nhiều hạt chất màu trắng và số tiền 13.700.000 đồng.
Hội đồng xét xử, xét thấy: 02 điện thoại do các bị cáo bán tài sản của bị hại Phan Đức C, Lê Thị Tường V lấy tiền để mua điện thoại sử dụng, tại phiên toà các bị cáo và bị hại thoả thuận các bị hại sẽ nhận 02 điện thoại trên với trị giá 15.000.000 đồng và trừ vào số tiền 64.200.000 đồng các bị cáo phải bồi thường, nên giao 02 điện thoại đang thu giữ cho các bị hại được quyền sở hữu. Đối với số tiền 13.700.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Anh T1, bị cáo T1 có được số tiền trên từ việc bán tài sản (bán vàng) chiếm đoạt của các bị hại Phan Đức C, Lê Thị Tường V, tại phiên toà các bị hại xin nhận lại số tiền 13.700.000 đồng và trừ vào số tiền 64.200.000 đồng mà các bị cáo phải bồi thường, nên giao cho các bị hại được quyền sở hữu số tiền 13.700.000 đồng đã thu từ bị cáo T1. Đối với 01 lắc đeo tay, bằng kim loại màu vàng, kiểu mắt xích hình chữ nhật nối lại với nhau, có đính nhiều hạt chất màu trắng thu giữ của các bị cáo, sợi dây chuyền không có giá trị và các bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 cái kìm cộng lực, các bị cáo mua sử dụng làm công cụ phạm tội, cây kìm có giá trị không lớn nên tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về án phí: Các bị cáo đều bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và có nghĩa vụ bồi thường nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo luật định.
[8] Về vấn đề khác:
8.1 Đối với hành vi Phan Thị Bích T6, Nguyễn Khôi V1 sử dụng các trang sức mà Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 trộm cắp của bị hại anh Phan Đức C, chị Lê Thị Tường V nhưng T6 và V1 không biết tài sản này do N, T1 trộm cắp mà có, cũng không hứa hẹn, giúp sức cho N và T1 thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Phan Thị Bích T6, Nguyễn Khôi V1 không đồng phạm với Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự, không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.
8.2 Việc các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 mang các tài sản trộm cắp gồm tivi hiệu LG, máy giặt hiệu Panasonic, quạt hơi nước hiệu Makano, loa hiệu Enkor về nhà sử dụng, vợ của Nguyễn Anh T1 là chị Nguyễn Thị Thanh T3, mẹ của Nguyễn Văn N là bà Nguyễn Thị Hồng T đều không biết các tài sản trên do N, T3 trộm cắp mà có. Do đó, chị Nguyễn Thị Thanh T3 và bà Nguyễn Thị Hồng T không phạm tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.
8.3 Đối với người mua xe mô tô do Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 trộm cắp vào ngày 06, 12, 13/7/2024, hiện vẫn chưa xác định được nhân thân, lai lịch của những người này. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an T9 sẽ tiếp tục xác minh, điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật.
8.4 Đối với người đàn ông lái xe lôi chở tài sản do N, T1 trộm cắp vào ngày 13/7/2024 và những người cắt chìa khoá, bán kìm để cả hai thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có cơ sở xử lý.
8.5 Đối với hành vi Nguyễn Văn N và Nguyễn Anh T1 trộm cắp xe Yamaha Jupiter, màu đen, có số máy: 2S11-029585, số khung: RLCJ2S1106Y029585 có gắn biển số 77H4 – 5495, quá trình điều tra không xác định được bị hại nên không có cơ sở xử lý N, T1 về hành vi này.
8.6 Đối với lần trộm vào ngày 14/7/2024, bị hại Phan Đức C, Lê Thị Tường V khai nhận ngoài các tài sản bị chiếm đoạt nêu trên còn bị mất thêm 08 nhẫn, bằng vàng 9999 (24K), trọng lượng 01 chỉ/chiếc và 01 dây chuyền kiểu mắt xích, bằng vàng tây (18K), trọng lượng 01 chỉ, gắn mặt dây chuyền có đính hột màu trắng với tổng trị giá 63.800.000 đồng. Quá trình điều tra, Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 khai nhận không chiếm đoạt các tài sản này. Bên cạnh đó, các chứng cứ Cơ quan CSĐT Công an T9 thu thập không chứng minh được N, T1 là đã chiếm đoạt các tài sản này như bị hại Phan Đức C, Lê Thị Tường V. Do đó, không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 đối với các tài sản 08 nhẫn, bằng vàng 9999 (24K), trọng lượng 01 chỉ/chiếc và 01 dây chuyền kiểu mắt xích, bằng vàng tây (18K), trọng lượng 01 chỉ, gắn mặt dây chuyền có đính hột màu trắng
[9] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tại phiên toà, về mức hình của các bị cáo là trong khung hình phạt đã truy tố và các phần đề nghị khác hầu hết phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, áp dụng cho các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1.
Căn cứ Điều 584, Điều 587, Điều 589 Bộ luật Dân sự
Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
2.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2024.
2.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T1 27 (hai mươi bảy ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2024.
3. Về bồi thường thiệt hại: Chấp nhận sự thoả thuận giữa các bị hại Phan Đức C và Lê Thị T8 và các bị cáo như sau: Các bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại anh Phan Đức C, Lê Thị T8 số tiền 35.500.000 đồng (sau khi được trừ đi số tiền 13.700.000 đồng và 02 điện thoại di động theo các bên thoả thuận trị giá 15.000.000 đồng). Chia phần mỗi bị cáo bồi thường 17.750.000 đồng.
3. Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 cái kìm cộng lực kích thước (59x9)cm, tay cầm màu đen, thân màu xanh, lưỡi cắt có vết vỡ kim loại kích thước (2,7x1)cm, đã qua sử dụng
- 01 lắc đeo tay, bằng kim loại màu vàng, kiểu mắt xích hình chữ nhật nối lại với nhau, có đính nhiều hạt chất màu trắng.
Giao cho anh Phan Đức C, chị Lê Thị T8 được quyền sở hữu các tài sản sau:
- 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu vàng, số IMEI 353967812702804, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max màu trắng, dung lượng 128 GB, có số Imei: 352048880113546, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng
- Số tiền 13.700.000 đồng.
Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/01/2025 của Chi cục thi hành án Dân sự TP. Quy Nhơn; Uỷ nhiệm chi lập ngày 06/01/2025 (đơn vị nhận tiền: Chi cục thi hành án Dân sự TP. Quy Nhơn)
4. Án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 887.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
7. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
7.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
7.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Đã ký và đóng dấu Ngô Đình Hưng |
Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 44/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do không có việc làm, cần tiền tiêu xài cá nhân nên các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Anh T đã bàn bạc với nhau, cùng nhau đi trộm cắp lấy tài sản đem bán chia nhau tiêu xài. Các bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện đi dạo trên các tuyến đường ở thành phố Q tìm xem người dân để xe mô tô sở hở thì lén lút chiếm đoạt, hoặc phát hiện nhà của người dân đi vắng đóng cửa, các bị cáo dùng kìm mang theo cắt khoá đột nhập vào bên trong trộm cắp tài sản. Với thủ đoạn trên, trong thời gian từ ngày 04/7/2024 đến ngày 14/7/2024 các bị cáo đã chiếm đoạt 05 xe mô tô và nhiều tài của các bị hại có tổng trị giá 131.790.000 đồng.
