TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST Ngày 27-02-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy
Ông Nguyễn Nam Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 334/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1993; nơi cư trú: Số A N, Tổ A, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Ngô Văn H, sinh năm 1992; nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Hàn Quốc; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn xin ly hôn và các bản tự khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu N trình bày:
Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Ngô Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai vào ngày 21/6/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống dẫn đến đời sống tình cảm lạnh nhạt, hạnh phúc gia đình không có. Anh H đã đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc từ năm 2019, hai vợ chồng sống ly thân. Hiện nay chị N không biết anh H sinh sống tại địa chỉ nào. Nay xác định tình cảm không còn, chị N đề nghị Toà án cho chị được ly hôn với anh Ngô Văn H.
Về con chung: Anh Ngô Văn H và chị Nguyễn Thị Thu N có 02 con chung là cháu Ngô Gia H1, sinh ngày 13/9/2018 và Ngô Gia T, sinh ngày 13/9/2018. Khi ly hôn chị N đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung là cháu Ngô Gia H1 và Ngô Gia T, việc cấp dưỡng nuôi con chị N tự thỏa thuận với anh H, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thu N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Ngô Văn H:
Sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông Ngô Văn M và bà Phạm Thị T1 – là bố mẹ đẻ của anh Ngô Văn H. Tòa án đã yêu cầu ông Ngô Văn M và bà Phạm Thị T1 cung cấp địa chỉ cụ thể của anh Ngô Văn H ở Hàn Quốc và cho biết kết quả về việc ông Ngô Văn M và bà Phạm Thị T1 đã thông báo cho anh Ngô Văn H để gửi lời khai đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu N cho Tòa án.
Tại Biên bản làm việc ngày 07/01/2025, bà T1 trình bày bà vẫn liên lạc qua điện thoại và mạng xã hội với anh H nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể anh H ở đâu. Bà đã thông báo cho anh H về yêu cầu của Tòa án, tuy nhiên anh H không thực hiện việc cung cấp địa chỉ và gửi lời khai về cho Tòa án. Anh H đã biết việc chị N xin ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của bà Phạm Thị T1 như sau: Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Ngô Văn H kết hôn kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai vào ngày 21/6/2016. Sau khi kết hôn một thời gian đến năm 2018 anh T2 đã đi du học tại Hàn Quốc, chị N ở với gia đình bà đến năm 2021 thì về nhà bố mẹ đẻ tại tỉnh Gia Lai, không sinh sống tại Hải Phòng nữa. Bà T1 đề nghị Tòa án giải quyết cho chị N được ly hôn với anh H theo quy định của pháp luật. Về con chung: Đề nghị giao cả 02 con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung, chị N không yêu cầu nên gia đình không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại Công văn số 4981/PA08(Đ1) ngày 31/12/2024 của Phòng Q Công an thành phố H thể hiện: Anh Ngô Văn H đã xuất cảnh gần nhất ngày 17/10/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Thu N và anh Ngô Văn H đều vắng mặt, chị Nguyễn Thị Thu N xin xét xử vắng mặt.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Thị Thu N được ly hôn với anh Ngô Văn H. Về con chung, chị N và anh H có 02 con chung là cháu Ngô Gia H1, sinh ngày 13/9/2018 và Ngô Gia T, sinh ngày 13/9/2018, đề nghị Hội đồng xét xử giao cả 02 con chung cho chị N nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung chị N xin tự giải quyết với anh H nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Về tài sản chung, chị N không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Nguyên đơn phải chịu án phí và các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Thu N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Ngô Văn H. Quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn là anh Ngô Văn H có đăng ký hộ khẩu thường trú và có nơi cư trú cuối cùng ở thành phố Hải Phòng, hiện đang sinh sống ở Hàn Quốc, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu N hiện nay đang sinh sống tại tỉnh Gia Lai. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn là anh Ngô Văn H, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh Ngô Văn H đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh Ngô Văn H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Ngô Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai vào ngày 21/6/2016. Theo Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp. Dù hai bên gia đình đã hòa giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thể hàn gắn. Vợ chồng ly thân từ năm 2018 đến nay không còn liên lạc với nhau, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị N và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã ly thân trong một thời gian dài nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thu N về việc xin ly hôn với anh Ngô Văn H.
[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Ngô Văn H có 02 con chung là cháu Ngô Gia H1, sinh ngày 13/9/2018 và Ngô Gia T, sinh ngày 13/9/2018. Khi ly hôn chị N đề nghị được nuôi dưỡng cả hai con chung. Xét thấy, hiện nay hai con chung đang do chị N trực tiếp chăm sóc, anh H hiện ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Do đó, việc chị N yêu cầu giao hai con chung cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cả 02 con chung là cháu Ngô Gia H1 và Ngô Gia T cho chị N nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Thu N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc tạm thời không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thu N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu N là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Ngô Văn H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu N.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu N ly hôn với anh Ngô Văn H.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên là Ngô Gia H1, sinh ngày 13/9/2018 và Ngô Gia T sinh ngày 13/9/2018 cho chị Nguyễn Thị Thu N nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm com con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Thu N về việc tạm thời không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thu N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0000915 ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Thu N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị Thu N (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Anh Ngô Văn H (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thúy Hà |
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Cao Thị Hạ | Nguyễn Thanh Hải | Bùi Thị Thúy Hà |
DANH SÁCH GỬI THỪA PHÁT LẠI
(Bản án HNGĐST số 44/27.02.2015)
Niêm yết tại nhà và ủy ban cho:
1. Anh Ngô Văn H, sinh năm 1992; nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Hàn Quốc;
Người gửi: Thư ký Trần Thị Thu H2 - sđt: 0966.287.xxx
Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
