TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2025/DS-ST Ngày: 19 - 02 - 2025. V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Bà Huỳnh Thị Lệ Quyên.
2/. Bà Trần Thị Ngọc Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 572/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐHPT-ST ngày 24 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V
Trụ sở: số H đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền nguyên đơn:
Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 2001 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Tầng C, số B đường Q, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Trần Quang M, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
Cư trú: 3 N, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/9/2024, và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Thúy H - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 30/9/2023, ông Trần Quang M và Ngân hàng Thương mại cổ phần V (gọi tắt là Ngân hàng V1) ký Hợp đồng vay số LN2309210323566, Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 30/9/2023 với số tiền vay là 400.000.000 đồng, thời hạn vay là 60 tháng, mục đích vay mua xe ô tô đã qua sử dụng, sản xuất năm 2018, nhãn hiệu PEUGEOT, số loại 3008, số khung RN2T85UA6JC088906, số máy 5G021UF010124279, biển kiểm soát 51L-017.41 để đi lại cá nhân, lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 11.5%/năm (lãi suất được tính theo 01 năm là 365 ngày) cố định trong 12 tháng đầu tiên sau đó định kỳ điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần theo biên độ + 4.6%/năm.
Ngày 16/06/2023, ông M ký giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày với Ngân hàng V1 với số tiền vay là 150.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, mục đích sử dụng vốn là mua sắm vật dụng gia đình.
Ngày 23/6/2023, ông M ký tiếp Giấy đề nghị mở thẻ tín dụng với ngân hàng V1, hạn mức 100.000.000 đồng, mục đích sử dụng là vay tiêu dùng,
Để đảm bảo cho các khoản vay nêu trên, Ngân hàng V1 ký kết với ông Trần Quang M Hợp đồng thế chấp số LN2309210323566 ngày 30/9/2023, tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu PEUGEOT, màu sơn trắng, biển kiểm soát 51L-017.41, số khung RN2T85UA6JC088906, số máy 5G021UF010124279 do Phòng CSGT Công an Thành phố H cấp ngày 26/09/2023 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Trần Quang M.
Quá trình thực hiện các hợp đồng trên, ông Trần Quang M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngày 15/7/2024, ngân hàng V1 chuyển sang nợ quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng vay số LN2309210323566 kèm phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 30/9/2023, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ và Giấy đề nghị mở thẻ tín dụng đã ký. Mặc dù, Ngân hàng đã tạo điều kiện cho ông Trần Quang M trả nợ nhưng ông M vẫn cố tình trốn tránh, không trả nợ cho ngân hàng.
Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Quang M phải thanh toán ngay cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các hợp đồng trên tạm tính đến ngày 18/02/2025 cụ thể như sau: Tổng cộng 739.680.888 đồng, bao gồm nợ gốc là 597.466.993 đồng, nợ lãi 142.233.895 đồng.
Ngoài ra, ông Trần Quang M còn phải chịu lãi quá hạn theo mức lãi suất đã thỏa thuận của các Hợp đồng trên từ ngày 19/02/2025 đến khi trả hết số nợ vay cho V1.
Trường hợp ông Trần Quang M không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ cho Ngân hàng số tiền trên thì ngân hàng V1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm phát mãi tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp số LN2309210323566 ngày 30/9/2023 là tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu PEUGEOT, màu sơn trắng, biển kiểm soát 51L-017.41, số khung RN2T85UA6JC088906, số máy 5G021UF010124279 do Phòng CSGT Công an Thành phố H cấp ngày 26/09/2023 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Trần Quang M.
Trường hợp số tiền phát mại tài sản không đủ thanh toán toàn bộ khoản nợ ông Trần Quang M vẫn phải tiếp tục nợ cho Ngân hàng V1 cho đến khi hết nợ.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
Đại diện uỷ quyền của Ngân hàng V1 có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông Trần Quang M vắng mặt không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự bị đơn ông Trần Quang M đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Toà án căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập được có cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn ký Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm. Quá trình sử dụng bị đơn vi phạm nghĩa vụ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả ngay số tiền còn thiếu và yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Toà án nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quan hệ pháp luật và tư cách tham gia tố tụng của đương sự: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng V1 yêu cầu bị đơn ông Trần Quang M trả số tiền nợ còn thiếu, có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa hai bên là “tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Bị đơn ông Trần Quang M có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Quận A nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.1] Xét Văn bản ủy quyền số 7798/2024/SE-UQ-VPB ngày 19/9/2024 của Ngân hàng V1 ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Thúy H tham gia tố tụng tại Toà án là phù hợp với quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Xét, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trần Quang M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không tham gia phiên tòa và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2]. Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Theo Hợp đồng vay số LN2309210323566 kèm phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 30/9/2023, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 16/06/2023, Giấy đề nghị mở thẻ tín dụng ngày 23/6/2023 và Hợp đồng thế chấp số LN2309210323566 ngày 30/9/2023 giữa Ngân hàng TMCP V với ông Trần Quang M được giao kết hợp pháp vì có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.1] Xét, yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ gốc và lãi đối với Hợp đồng vay số LN2309210323566 kèm phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 30/9/2023, Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 30/9/2023, ông M và Ngân hàng V1 ký hợp đồng tín dụng, vay số tiền 400.000.000 đồng với mục đích mua xe ô tô đã qua sử dụng, lãi suất tại thời điểm vay là 11,5%/năm, áp dụng cơ chế điều chỉnh của ngân hàng V1 theo quy định. Đối chiếu với lời khai và bản sao kê do ngân hàng cung cấp có cơ sở xác định từ ngày giải ngân đến nay, ông M đã trả được nợ gốc là 53.336.003 đồng và tiền lãi 30.570.513 đồng. Từ ngày 15/7/2024, ông M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngân hàng đã chuyển sang nợ quá hạn và tính lãi suất theo nợ quá hạn theo thoả thuận tại khoản 7 Điều 1 của hợp đồng tín dụng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Khoản 6 Điều 1 của Hợp đồng tín nên Ngân hàng V1 yêu cầu ông M phải trả số tiền tạm tính đến ngày 18/02/2025 là 387.795.265 đồng (1), trong đó nợ gốc là 346.663.997 đồng, nợ lãi là 41.131.268 đồng.
[2.2] Xét, yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ gốc và lãi đối với Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 16/06/2023, căn cứ bản tự khai và bản kê tính lãi của ngân hàng cung cấp xác định ngày 16/06/2023 ông M đã vay của ngân hàng V1 150.000.000 đồng, mục đích mua sắm vật dụng gia đình, lãi suất trong hạn là 29%/năm và cơ chế điều chỉnh lãi suất theo quy định của ngân hàng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông M đã thanh toán cho ngân hàng nợ gốc là 18.684.071 và tiền lãi là 49.099.288 đồng. Kể từ ngày 15/7/2024, ông M không thực hiện nghĩa vụ đối với ngân hàng nên ngân hàng đã chuyển số nợ của ông M sang nợ quá hạn theo quy định “ Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tài thời điểm chuyển nợ quá hạn”. Như vậy, tính đến ngày 18/02/2025, ông M còn nợ Ngân hàng V1 là 162.640.503 đồng (2), trong đó nợ gốc là 131.315.929 đồng, nợ lãi là 31.324.574 đồng.
[2.3] Xét, yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ gốc và lãi đối với Giấy đề nghị mở thẻ tín dụng của Ngân hàng V1 với ông M ngày 23/6/2023, căn cứ bảng kê tính lãi và bản tự khai của ngân hàng V1 có cơ sở xác định ông M đã sử dụng thẻ tín dụng có hạn mức là 100.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng, áp dụng lãi suất theo quy định của ngân hàng V1. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông M vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng nên tạm tính đến ngày 18/02/2025, ông M còn nợ ngân hàng số tiền là 189.245.120 đồng (3), trong đó nợ gốc là 119.467.067, nợ lãi là 69.778.053 đồng.
[2.4] Về quy định áp dụng lãi suất và lãi suất nợ quá hạn, Ngân hàng áp dụng lãi quá hạn khi vi phạm nghĩa vụ trả nợ là “150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tài thời điểm chuyển nợ quá hạn”. Như vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng”. Xét thấy, đến kỳ hạn trả nợ phía bị đơn không trả được nợ nên nguyên đơn yêu cầu chuyển toàn bộ dư nợ hiện có của các hợp đồng tín dụng sang nợ quá hạn là phù hợp với quy định về chuyển nợ quá hạn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và Điều 357 của Bộ luật Dân sự nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền lãi tạm tính đến ngày 18/02/2025 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Như vậy, lãi suất sẽ được tiếp tục tính kể từ ngày 19/02/2025 cho đến khi ông M thanh toán xong nợ, theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng vay số LN2309210323566 kèm phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 30/9/2023, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 16/06/2023, Giấy đề nghị mở thẻ tín dụng ngày 23/6/2023 giữa Ngân hàng V1 và ông M.
[2.5]. Từ những phân tích trên tạm tính đến ngày 18/02/2025, ông M còn nợ tổng số tiền từ các hợp đồng tín dụng (1) + (2) + (3) là 739.680.888 đồng, trong đó nợ gốc là 597.446.993 đồng, nợ lãi 142.233.895 đồng.
[2.6] Xét, nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào khoản 8 Điều 1 của Hợp đồng vay số LN2309210323566 kèm phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 30/9/2023, Điều 8, 9 Hợp đồng thế chấp số LN2309210323566 ngày 30/9/2023 giữa Ngân hàng V1 với ông M quy định trường hợp bên được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V1 được quyền xử lý tài sản bảo đảm của người thế chấp để thu hồi nợ. Xét thấy, kể từ ngày giải ngân đến nay ông M thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V1 đã làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo của ông Trần Quang M là xe ô tô nhãn hiệu PEUGEOT, màu sơn trắng, biển kiểm soát 51L-017.41, số khung RN2T85UA6JC088906, số máy 5G021UF010124279 do Phòng CSGT Công an Thành phố H cấp ngày 26/09/2023 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Trần Quang M để thu hồi nợ là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 98 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 357, khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
[1.1] Buộc bị đơn ông Trần Quang M có trách nhiệm trả ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền tạm tính đến ngày 18/02/2025 là 739.680.888 (Bảy trăm ba mươi chín triệu, sáu trăm tám mươi nghìn, tám trăm tám mươi tám) đồng, trong đó nợ gốc là 597.446.993 (Năm trăm chín mươi bảy triệu, bốn trăm bốn mươi sáu nghìn, chín trăm chín mươi ba) đồng, nợ lãi 142.233.895 (Một trăm bốn mươi hai triệu, hai trăm ba mươi ba nghìn, tám trăm chín mươi lăm) đồng.
[1.2] Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 19/02/2025 trên số tiền nợ còn lại cho đến trả xong khoản nợ, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng vay số LN2309210323566 kèm phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 30/9/2023, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 16/06/2023, Giấy đề nghị mở thẻ tín dụng ngày 23/6/2023 ký giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V với ông Trần Quang M.
[1.3] Sau khi ông Trần Quang M thanh toán xong số nợ còn phải thi hành với Ngân hàng Thương mại cổ phần V, Ngân hàng Thương mại cổ phần V có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp tài sản bảo đảm đã thế chấp xe ô tô nhãn hiệu PEUGEOT, màu sơn trắng, biển kiểm soát 51L-017.41, số khung RN2T85UA6JC088906, số máy 5G021UF010124279 do Phòng CSGT Công an Thành phố H cấp ngày 26/09/2023 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Trần Quang M.
[1.4] Trường hợp ông Trần Quang M không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần V được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm thế chấp xe ô tô nhãn hiệu PEUGEOT, màu sơn trắng, biển kiểm soát 51L-017.41, số khung RN2T85UA6JC088906, số máy 5G021UF010124279 do Phòng CSGT Công an Thành phố H cấp ngày 26/09/2023 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Trần Quang M để thu hồi nợ.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng Thương mại cổ phần V. Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì ông Trần Quang M vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm là 33.587.236 (Ba mươi ba triệu, năm trăm tám mươi bảy nghìn hai trăm ba mươi sáu) đồng, ông Trần Quang M phải chịu.
Ngân hàng Thương mại cổ phần V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 14.551.692 (Mười bốn triệu, năm trăm năm mươi mốt nghìn, sáu trăm chín mươi hai) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0020969 ngày 18/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10.
3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Lan |
Bản án số 44/2025/DS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 44/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
