|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 44/2025/DS-PT Ngày 18-02-2025 “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
|
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: |
|
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Thành |
| Các Thẩm phán: | Ông Lê Văn Hùng |
| Ông Lê Thành Trung | |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Duy Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Thành Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 287/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 42/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1969. Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt);
- Bị đơn:
- Ông Phan Văn S, sinh năm 1939 (có mặt);
- Ông Phan Văn C, sinh năm 1961 (có mặt);
- Bà Phan Thị N, sinh năm 1949 (có mặt);
- Ông Võ Văn D, sinh năm 1952 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Thị N1, sinh năm 1953 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Chị Võ Thị H1, sinh năm 1982 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Chị Võ Thị Cẩm D1, sinh năm 1990 (có mặt);
- Chị Võ Thị Lệ T, sinh năm 1997 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Ông Trịnh Văn R, sinh năm 1968 (có mặt);
- Anh Trịnh Văn Vũ L, sinh năm 1996 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1962 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Anh Phan Hữu T1, sinh năm 1983 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Anh Phan Hữu T2, sinh năm 1985 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Chị Phan Thị Thu Q, sinh năm 1992 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Chị Phan Thị Mỹ N2, sinh năm 1996 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Bà Trần Thị C1, sinh năm 1940 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Bà Phan Thị Thu T3, sinh năm 1978 (có mặt);
- Chị Phan Thị M, sinh năm 1983 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Anh Phan Văn T4, sinh năm 1994 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Bà Dương Thị T5, sinh năm 1970 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Anh Võ Hoàng N3, sinh năm 1986 (có mặt);
- Bà Trần Hồng H2, sinh năm 1982
- Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1978 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Bà Huỳnh Kim N4, sinh năm 1982 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Anh Phan Minh P, sinh năm 2006 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Anh Võ Quốc T6, sinh năm 2004 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T5, anh N3: Ông Võ Văn H, sinh năm 1969; địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H2: Ông Trần Văn M1, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người kháng cáo: Ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Võ Văn H trình bày và có yêu cầu như sau:
Vào năm 1990 cha vợ của ông tên Dương Văn T7 nhận sang nhượng hai thửa đất của bà Dương Thị Q1 gồm thửa đất số 800, diện tích 780m² và thửa đất số 799, diện tích 730m² toạ lạc ấp T, xã H, huyện C, sau đó cha của ông cho vợ chồng ông thửa đất số 800 nên năm 2010 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông đại diện hộ đứng tên quyền sử dụng.
Thửa đất số 800 của ông tiếp giáp với thửa đất số 2898 của bà Trần Hồng H2 (thửa đất số 2898 được tách từ thửa đất 801 trước đây của ông Trần Văn M1 chuyển nhượng cho bà H2). Giữa hai thửa đất 800 và thửa 2898 liền kề nhau nằm phía ngoài, trước đây là đất ruộng, hai bên đất có cái bờ làm ranh và bờ ranh này cho hộ ông Phan Văn S, Phan Văn C là những hộ có đất bên trong đi nhờ vào nhà, ra đường công cộng và cho những người dân sử dụng đi tắt vào ruộng, đi nơi khác do không có lối đi thuận tiện; sau này những người dân không còn đi lối này, chỉ còn hộ ông S, ông C dùng đi hàng ngày ra đường công cộng nên trước đây đại diện hộ bên trong là ông S, ông C cũng xin đi nhờ lối này và hiện nay ông, cũng như phía bà H2 dành cho các hộ bên trong được đi, cụ thể bên thửa đất của ông chừa lối đi chiều ngang 1m, dài khoảng hơn 36m, phía đất của bà H2 có chừa lối đi chiều ngang 1,6m chiều dài khoảng 36m do những hộ này không có lối đi nào khác.
Sau khi được đất đi thì các hộ bên trong thường gây mâu thuẫn với gia đình ông và dành phần lối đi của họ nên ông không đồng ý, nhiều lần qua hoà giải của xã, có lần ông S đại diện các hộ bên trong xin được đi nhưng ông không đồng ý vì các hộ bên trong luôn gây mâu thuẫn.
Quá trình giải quyết ông thống nhất kết quả đo đạc, do đó yêu cầu giải quyết buộc các bị đơn ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị N1, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị Cẩm D1, chị Võ Thị Lệ T, ông Trịnh Văn R, anh Trịnh Văn Vũ L, bà Nguyễn Thị X, ông Phan Hữu T1, ông Phan Hữu T2, bà Phan Thị Thu Q, bà Phan Thị Mỹ N2, bà Trần Thị C1, bà Phan Thị Thu T3, bà Phan Thị M, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn Đ, bà Huỳnh Kim N4, anh Phan Minh P, anh Võ Quốc T6 phải trả lại phần đất lối đi diện tích thực đo là 37,6m² nằm trong tổng diện tích 780m², thuộc thửa đất số 800, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp T, xã H, huyện C cho gia đình ông được quyền sử dụng.
Đối với phần đất lối đi này, vào ngày 20/4/2022 ông đã chuyển nhượng cho bà Trần Hồng H2 nên yêu cầu giải quyết lấy lại đất để ông chuyển giao cho bà H2.
Đối với thoả thuận chuyển nhượng đất giữa ông và bà H2 thì ông không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết trong vụ kiện này.
Bị đơn ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn trình bày yêu cầu như sau:
- Không đồng ý yêu cầu của ông Võ Văn H về việc buộc các hộ có nhà, đất bên trong trả phần đất lối đi diện tích thực đo là 37,6m². Lý do, hiện bên trong hai thửa đất 800 của ông H và thửa 2898 của bà Trần Hồng H2 là hai thửa đất 797 của hộ ông S đứng tên quyền sử dụng và thửa đất 798 của ông C đứng tên quyền sử dụng và trên hai thửa đất bên trong này gồm 06 căn nhà của 06 gia đình gồm hộ ông Phan Văn S, hộ ông Phan Văn C, hộ bà Phan Thị N, hộ ông Võ Văn D và hộ Phan Thị Thu T3; hộ ông Phan Văn S gồm các thành viên bà Trần Thị C1, anh Phan Văn T4, chị Huỳnh Kim N4, hộ ông Phan Văn C gồm các thành viên bà Nguyễn Thị X, Phan Hữu T1, Phan Hữu T2, Phan Thị Thu Q, Phan Thị Mỹ N2, hộ bà Phan Thị N gồm các thành viên ông Trịnh Văn R, anh Trịnh Văn Vũ L, hộ ông Võ Văn D gồm các thành viên bà Phan Thị N1, chị Võ Thị H1, anh Võ Quốc T6, chị Võ Thị Lệ T và hộ Phan Thị Thu T3 gồm các thành viên ông Phan Văn Đ, anh Phan Minh P và nhà của chị.
Về nguồn gốc thửa đất 800 trước đây của bà Dương Thị Q1 tặng cho con là ông Nguyễn Văn H3, ông H3 chuyển nhượng cho ông Dương Văn K, ông K chuyển nhượng cho ông Dương Văn K1, ông K1 chuyển nhượng cho ông H; còn thửa đất 801 trước đây là của ông Trần Văn M1 nay là thửa 2898 của bà H2 nhận chuyển nhượng lại của ông M1 thì trước đó ông M1 cũng nhận chuyển nhượng của bà Dương Thị Q1.
Từ trước năm 1975 gia đình ông S, ông C cũng như các hộ phía trong được bà Q1 là chủ đất cũ cho lối đi chiều ngang khoảng 05m làm lối đi ra đường công cộng và khi các chủ đất cũ chuyển quyền sử dụng thì vẫn dành cho gia đình các hộ phía trong sử dụng lối đi này, việc sử dụng lối đi những người gần đất ai cũng biết.
Thời gian gần đây phía ông H, bà H2 xây hàng rào lưới B40 thì xây dựng lấn vào phần đất lối đi, lối đi còn lại hiện nay chiều ngang là 2,6m là đất tranh chấp, cụ thể phía ranh bên ông H, ông H cho rằng còn là 1m, phía ranh bên bà H2, bà H2 cho rằng chừa là 1,6m, ông H yêu cầu các hộ bên trong trả lại phần lối đi này thì phía các hộ bên trong không đồng ý, vì phần lối đi đã có từ trước được chủ đất cũ cho sử dụng và hiện các hộ bên trong không có lối đi nào khác nên yêu cầu được tiếp tục sử dụng và công nhận lối đi diện tích thực đo là 37,6m² thuộc thửa đất số 800, cho gia đình các hộ bên trong được quyền sử dụng chung.
Ông Trần Văn M1 đại diện cho bà Trần Hồng H2 trình bày:
Vào ngày 20/4/2022 bà H2 có nhận chuyển nhượng một phần đất là lối đi của ông Võ Văn H chiều ngang 0,8m, dài 36m có làm giấy tay, giá chuyển nhượng là 80.000.000 đồng, đã giao đủ tiền cho ông H, ông H chưa giao đất vì lối đi còn đang tranh chấp với các hộ ông S, ông C, bà N, ông D nên để cho ông tranh chấp lấy lại đất sẽ giao cho bà H2 sau. Nay ông xác định việc chuyển nhượng đất giữa bà H2 và ông H để tự thoả thuận riêng nên không tranh chấp yêu cầu giải quyết trong vụ kiện này.
Quá trình giải quyết những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị T5, anh Võ Hoàng N3 đứng về phía nguyên đơn, không có tranh chấp khác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh đã xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn H về buộc ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D, bà Phan Thị N1, chị Võ Thị H1, chị Võ Thị Cẩm D1, chị Võ Thị Lệ T, ông Trịnh Văn R, bà Nguyễn Thị X, anh Trịnh Văn Vũ L, anh Phan Hữu T1, anh Phan Hữu T2, chị Phan Thị Thu Q, chị Phan Thị Mỹ N2, bà Trần Thị C1, bà Phan Thị Thu T3, bà Phan Thị M, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn Đ, bà Huỳnh Kim N4, anh Phan Minh P, anh Võ Quốc T6 trả lại phần đất lối đi diện tích thực đo là 37,6m² nằm trong tổng diện tích 780m², thuộc thửa đất số 800, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Buộc ông Võ Văn H, bà Dương Thị T5, anh Võ Hoàng N3 mở lối đi theo hiện trạng kết quả đo đạc diện tích 36,7m² thuộc thửa 800, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, ông Võ Văn D, bà Phan Thị N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị N1, chị Võ Thị H1, chị Võ Thị Cẩm D1, chị Võ Thị Lệ T, ông Trịnh Văn R, bà Nguyễn Thị X, anh Trịnh Văn Vũ L, anh Phan Hữu T1, anh Phan Hữu T2, chị Phan Thị Thu Q, chị Phan Thị Mỹ N2, bà Trần Thị C1, bà Phan Thị Thu T3, bà Phan Thị M, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn Đ, bà Huỳnh Kim N4, anh Phan Minh P, anh Võ Quốc T6 được quyền sử dụng.
Phần diện tích đất lối đi 36,7m² có tứ cận theo trích lục bản đồ địa chính kèm theo công văn số 78/CNHCN-KTĐC, ngày 07/7/2023 của Văn phòng Đ1 chi nhánh huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Để đảm bảo đến khi án có hiệu lực pháp luật, nghiêm cấm đào phá, hủy hoại làm thay đổi diện tích đất, không được chuyển nhượng hoặc thực hiện bất kỳ hình thức nào khi chưa được sự đồng ý của Cơ quan có thẩm quyền.
Buộc ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D có nghĩa vụ liên đới bồi thường số tiền 5.640.000 đồng (Năm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) cho ông Võ Văn H.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo, theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/08/2024 bị đơn ông Phan Văn S, Phan Văn C, Phan Thị N, Võ Văn D kháng cáo không chấp nhận việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn ông Phan Văn S, Phan Văn C, Phan Thị N, Võ Văn D liên đới bồi thường số tiền 5.640.000 đồng cho ông Võ Văn H, chỉ đồng ý liên đới bồi thường cho ông Võ Văn H số tiền 5.640.000 đồng x 50% = 2.820.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như diễn biến và tranh tụng công khai tại phiên toà hôm nay. Xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Phan Văn S, Phan Văn C, Phan Thị N, Võ Văn D không chấp nhận việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bồi thường số tiền 5.640.000 đồng cho ông Võ Văn H, chỉ đồng ý liên đới bồi thường cho ông Võ Văn H số tiền 2.820.000 đồng. Tuy nhiên tại phiên tòa ngày hôm nay phía nguyên đơn ông Võ Văn H tự nguyện không nhận tiền bồi thường đồng ý mở lối đi với diện tích 37,6m² trên phần đất của ông. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông H, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa Bản án sơ thẩm số 55/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của các đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm bị đơn ông Phan Văn S, Phan Văn C, Phan Thị N, Võ Văn D kháng cáo, việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa hôm nay ông Võ Văn H tự nguyện đồng ý mở lối đi diện tích 37,6m² như án sơ thẩm đã xét xử, ông không yêu cầu các bị đơn phải trả giá trị cho ông với số tiền 5.640.000 đồng được các bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng ý. Xét thấy việc tự nguyện của ông H là phù hợp theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận sửa án sơ thẩm theo đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Phan Văn S, Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, do ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn H về buộc ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, bà Phan Thị N, ông Võ Văn D, bà Phan Thị N1, chị Võ Thị H1, chị Võ Thị Cẩm D1, chị Võ Thị Lệ T, ông Trịnh Văn R, bà Nguyễn Thị X, anh Trịnh Văn Vũ L, anh Phan Hữu T1, anh Phan Hữu T2, chị Phan Thị Thu Q, chị Phan Thị Mỹ N2, bà Trần Thị C1, bà Phan Thị Thu T3, bà Phan Thị M, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn Đ, bà Huỳnh Kim N4, anh Phan Minh P, anh Võ Quốc T6 trả lại phần đất lối đi diện tích thực đo là 37,6m² nằm trong tổng diện tích 780m², thuộc thửa đất số 800, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Phần diện tích đất lối đi 37,6m² có tứ cận theo trích lục bản đồ địa chính kèm theo công văn số 78/CNHCN-KTĐC, ngày 07/7/2023 của Văn phòng Đ1 chi nhánh huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Để đảm bảo đến khi án có hiệu lực pháp luật, nghiêm cấm đào phá, hủy hoại làm thay đổi diện tích đất, không được chuyển nhượng hoặc thực hiện bất kỳ hình thức nào khi chưa được sự đồng ý của Cơ quan có thẩm quyền.
- Buộc ông Võ Văn H, bà Dương Thị T5, anh Võ Hoàng N3 mở lối đi theo hiện trạng kết quả đo đạc diện tích 36,7m² thuộc thửa 800, tờ bản đồ số 8, toạ lạc ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho ông Phan Văn S, ông Phan Văn C, ông Võ Văn D, bà Phan Thị N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị N1, chị Võ Thị H1, chị Võ Thị Cẩm D1, chị Võ Thị Lệ T, ông Trịnh Văn R, bà Nguyễn Thị X, anh Trịnh Văn Vũ L, anh Phan Hữu T1, anh Phan Hữu T2, chị Phan Thị Thu Q, chị Phan Thị Mỹ N2, bà Trần Thị C1, bà Phan Thị Thu T3, bà Phan Thị M, ông Phan Văn T4, ông Phan Văn Đ, bà Huỳnh Kim N4, anh Phan Minh P, anh Võ Quốc T6 được quyền sử dụng.
Phần diện tích đất lối đi 36,7m² có tứ cận theo trích lục bản đồ địa chính kèm theo công văn số 78/CNHCN-KTĐC, ngày 07/7/2023 của Văn phòng Đ1 chi nhánh huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Để đảm bảo đến khi án có hiệu lực pháp luật, nghiêm cấm đào phá, hủy hoại làm thay đổi diện tích đất, không được chuyển nhượng hoặc thực hiện bất kỳ hình thức nào khi chưa được sự đồng ý của Cơ quan có thẩm quyền.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Võ Văn H về việc không nhận tiền bồi thường số tiền 5.640.000 đồng (Năm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Phan Văn S, Phan Văn C, Phan Thị N, Võ Văn D.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thành |
Bản án số 44/2025/DS-PT ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 44/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSD đất
