Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HS-ST

Ngày: 22-01-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Đặng Thanh Tấn.

2/ Ông Nguyễn Trung Lưu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Giang Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa T - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 377/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXX ST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Đặng Minh T1, Sinh ngày 06/12/2004, tại Đ, P, Bình Thuận.

Nơi cư trú: Khu phố C, phường Đ, Thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh.Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không.Trình độ học vấn: 6/12 . Nghề nghiệp: Lao động biển. Con ông Đặng Văn T2, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1982. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

*Những người tham gia tố tụng khác:

-Người bị hại: Kiều Ngọc H, sinh năm 1996, Địa chỉ thường trú: Khu phố D, phường Đ, Thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Đặng Văn H1, Sinh ngày 14/12/2008. Địa chỉ thường trú: Khu phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

2/ Bà Lê Thị H2, sinh 1986, (Mẹ của Đặng Văn H1). Địa chỉ thường trú: Khu phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 10/4/2024, Đặng Minh T1 cùng uống rượu bia với Đặng Văn H1 (sinh ngày 14/12/2008, cùng trú tại: Khu phố C, phường Đ, thành phố P), Võ Văn H3 (sinh ngày 08/8/2008) và Trần Văn V (sinh ngày 30/3/2004, cùng trú tại: Khu phố D, phường Đ, thành phố P) tại trại sò của nhà T1 ở khu phố C, phường Đ, TP P.

Quá trình uống rượu bia, V có kể về việc Kiều Ngọc H nợ tiền của mẹ T1 nhưng không đi ghe cho nhà T1 để trả nợ. Nghe vậy, T1 đứng dậy điều khiển xe mô tô biển số 86AA-10074 đi tìm H để hỏi chuyện, thì H1 xin đi theo và được T1 đồng ý (T1 và H1 có mối quan hệ họ hàng). H1 nói dối T1 đợi H1 đi vệ sinh, rồi H1 một mình đi đến bụi cây gần đó lấy 01 (một) cây kiếm tự chế (H1 cất giấu sẵn từ trước) giấu vào trong người và kéo dây khóa áo khoác H1 đang mặc để che lại. T1 điều khiển xe mô tô chở H1 ngồi sau đi tìm H.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T1 và H1 thấy H đang ở quán internet thuộc khu phố D, phường Đ, TP P. T1 đi đến hỏi H về việc tại sao nợ tiền mẹ của T1 mà không đi ghe cho nhà T1. H1 cũng hỏi H “Sao ông thiếu tiền Bác Năm tui mà không đi ghe cho nhà Bác Năm” thì H chửi H1 “mất dạy” (vì H1 nhỏ tuổi hơn H). T1 nói H1 “im lặng” (tức không cho H1 cãi lại H), rồi T1 nói H “Khi nào ghe nhà em đi biển thì em sẽ gọi cho anh” thì H đồng ý. Lúc này T1 chuẩn bị điều khiển xe mô tô chở H1 về thì H chặn đầu xe và nói với H1 “Mày là ai mà dám nói chuyện với tao kiểu đó”. H kéo H1 xuống và dùng tay đánh vào mặt H1 02 cái. H1 tức giận rút kiếm đang giấu trong người chém về phía H nhưng không trúng. H bỏ chạy thì H1 cầm kiếm rượt đuổi theo H, T1 cũng điều khiển xe mô tô chạy theo.

H1 và H chạy vào một con hẻm gần đó và ôm vật nhau xuống đất, khi T1 chạy đến nơi thì thấy H đang dùng 02 tay ôm chặt người của H1, trên tay H1 vẫn còn cầm thanh kiếm (do bị H ôm chặt nên H1 không chém được H). Thấy vậy, T1 dựng xe và đi đến kéo H ra khỏi người H1. Trong lúc T1 đang đứng trước mặt H, H1 đứng sau lưng T1 (mặt T1 và H1 nhìn về phía H), do H đã say và cứ nhào về phía T1 đòi đánh H1, nên T1 đã dùng tay phải tát 01 (một) cái vào mặt của H. Thấy T1 đánh H, H1 đang đứng sau lưng T1 liền dùng kiếm chém 03 đến 04 nhát theo hướng từ trên xuống trúng vào vùng trán phải, hông phải và cẳng chân phải của H. T1 nói với H1 “Thôi”, H1 thấy H bị chảy máu nên cũng dừng lại. Lúc này H3 và V vừa đến nơi, T1 nói H3 và V chở H1 về, còn T1 ở lại dùng ruột thuốc lá đắp lên vết thương trên người H. Sau đó H về nhà và được đưa đến Bệnh viện T3 điều trị thương tích.

Đến ngày 15/4/2024, bà Nguyễn Thị H4 (sinh năm 1974) - mẹ ruột của Kiều Ngọc H đến Công an phường Đ trình báo sự việc.

Đặng Văn H1 sinh ngày 14/12/2008, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội nêu trên (ngày 10/4/2024), H1 có độ tuổi: 15 năm 03 tháng 27 ngày

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 429/KLTTCT - TTGĐYKPYBT ngày 22/5/2024, Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của Kiều Ngọc H như sau:

1. Các kết quả chính:

- Vết thương – chấn thương vùng trán đỉnh phải, dập não thái dương phải, nứt sọ trán phải hiện không còn hình ảnh dập não thái dương phải trên phim CT-Scanner sọ não; để lại sẹo kích thước: (7,5 x 0,3)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 5% + 10% + 2%.

- Vết thương phần mềm vùng hông phải đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước: (7,5 x 0,3)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.

- Vết thương phần mềm 1/3 dưới mặt trước cẳng chân phải đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước: (2 x 0,3) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Kiều Ngọc H tại thời điểm giám định là: 19%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác:

+ Các vết thương do vật sắc gây ra.

+ Vết thương – chấn thương vùng trán đỉnh phải có chiều hướng tác động từ trên xuống dưới, với lực tác động trung bình; Vết thương vùng hông phải có chiều hướng tác động từ phải sang trái, với lực tác động nhẹ; Vết thương cẳng chân phải có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương, với lực tác động nhẹ.

+ Hiện không xác định cố tật.

Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKSPT-HS ngày 22 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Đặng Minh T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”, theo tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134, điểm đ khoản 02 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo xác định nội dung cáo trạng truy tố không oan sai.

Người bị hại trình bày ý kiến: Đề nghị buộc bị cáo bồi thường thêm tiền mất thu nhập trong thời gian điều trị (01 tháng) là 10 triệu đồng, giữ nguyên ý kiến bãi nại đề nghị không xử lý Hình sự đối với bị cáo.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

- Về tội danh và hình phạt: Đại diện Viện kiểm sát đã giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo tại cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử;

- Áp dụng quy định tại điểm đ khoản 02 Điều 134, điểm s, b khoản 01 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Minh T1 từ 24 đến 30 tháng tù, nhung cho hưởng án treo, ấn định thời gian thửa thách từ 04 năm đến 05 năm, kể từ ngày tuyên án

-Về phần trách nhiệm dân sự: Đề nghị tuyên buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại tiền mất thu nhập do không lao động trong thời gian điều trị (01 tháng) là 10 triệu đồng .

-Về xử lý vật chứng:

+ Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cây kiếm tự chế, chiều dài 70cm, phần cán làm bằng gỗ, màu đỏ chiều dài 23,5cm;

Lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo mong Hội đồng xem xét khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về căn cứ buộc tội bị cáo:

Xét thấy khi xảy ra sự việc Kiều Ngọc H và Đặng Văn H1 xô xát đánh nhau vào ngày 10/4/2024 tại khu phố D, phường Đ, Thành phố P, Đặng Minh T1 đã chứng kiến và thấy rõ Đặng Văn H1 đang sử dụng cây kiếm tự chế tấn công Kiều Ngọc H để giúp T1 giải quyết mâu thuẫn về việc H nợ tiền mẹ của T1; Tuy nhiên T1 đã không can ngăn H1 mà còn dùng tay tát Kiều Ngọc H. Ngay sau khi T1 thực hiện hành vi này đối với H, thì Đặng Văn H1 đã nhào đến dùng kiếm tự chế chém Kiều Ngọc H nhiều nhát gây tổn thương cơ thể với tỷ lệ 19% .

Do vậy tuy không trực tiếp chém Kiều Ngọc H, nhưng Đặng Minh T1 phải chịu chung trách nhiệm về toàn bộ hành vi và hậu quả thương tật mà Đặng Văn H1 đã thực hiện với Kiều Ngọc H trong vụ án. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Đặng Minh T1 “Cố ý gây thương tích” với tình tiết “ dùng hung khí nguy hiểm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, và tình tiết “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Đối với Đặng Văn H1 là người trực tiếp chém Kiều Ngọc H gây thương tích trong vụ án, nhưng H1 sinh ngày 14/12/2008, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 10/4/2024), có độ tuổi: 15 năm 03 tháng 27 ngày – chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội nghiêm trọng, theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự, do vậy cơ quan điều tra và truy tố không truy cứu trách nhiệm Hình sự mà chuyển xử lý hành chính là phù hợp.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cho thấy:

-Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.

-Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án:

Xét thấy bị cáo biết rõ Đặng Văn H1 đang sử dụng hung khí nguy hiểm rượt chém nhằm gây thương tich cho bị hại, nhưng vẫn dùng tay tát vào mặt H khiến Đặng Văn H1 thêm ý chí thực hiện hành vi chém H nhiều nhát gây thương tích 19%; Hành vi của bị cáo là đồng phạm với Đặng Văn H1, hành vi đó đã xâm hại sức khỏe người khác gây mất trật tự trị an tại địa phương, do vậy cần xử lý nghiêm để răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét, trong vụ án hậu quả thương tật của bị hại do bị cáo gián tiếp gây ra, Đặng Văn H1 mới là người trực tiếp chém gây ra toàn bộ hậu quả thương tật cho bị hại trong vụ án.

[4] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Minh T1 đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, thành khẩn khai báo, được bị hại có đơn rút yêu cầu xử lý hình sự, bị hại cũng có một phần lỗi đã tát tai Đặng Văn H1 trước là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.

[5] Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét thấy việc cho hưởng án treo đối với bị cáo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đảm bảo nguyên tắc xử lý của bộ luật Hình sự, do vậy Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 02 điều 54, điều 65 Nghị quyết 02 /2018 và Nghị quyết 01/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao, xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù cho hưởng án treo, giao bị cáo về địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục là đã đạt được mục đích của hình phạt.

[6] Quan điểm của viện kiểm sát về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là phù hợp quy định pháp luật;

[7]Về phần bồi thường dân sự:

Tại phiên tòa bị cáo và bị hại thỏa thuận bồi thường về dân sự, cụ thể như sau:

- Tiền chi phí điều trị thương tích (tiền thuốc, chi phí điều trị tại bệnh viện ) tổng cộng 13 triệu đồng;

-Tiền mất thu nhập trong thời gian điều trị thương tích là 01 tháng tương ứng với số tiền 10 triệu đồng;

- Tiền tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm hại, bị hại Kiều Ngọc H không yêu cầu bồi thường;

Như vậy tổng chi phí thiệt hại về sức khỏe Kiều Ngọc H yêu cầu Đặng Minh T1 phải bồi thường là 23 triệu đồng, T1 đã bồi thường 13 triệu đồng, và thỏa thuận đồng ý tiếp tục bồi thường cho Kiều Ngọc H 10 triệu đồng .

Xét sự thỏa thuận về bồi thường dân sự nêu trên là phù hợp quy định pháp luật nên Hội dồng xét xử công nhận.

Đối với việc Kiều Ngọc H và bị cáo Đặng Minh T1 không yêu cầu Đặng Văn H1 và cha mẹ của H1 phải chia phần liên đới bồi thường chi phí thiệt hại về sức khỏe do H1 gây ra cho H trong vụ án, do vậy Hội đồng xét xử không xét .

[8] Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 cây kiếm tự chế chiều dài 70cm; phần cán làm bằng gỗ, màu đỏ chiều dài 23,5cm; phần lưỡi kiếm rỉ sét, màu nâu, chiều dài 46,5cm, thu giữ từ Đặng Văn H1. H1 khai đây là hung khí H1 sử dụng chém gây thương tích cho Kiều Ngọc H vào tối ngày 10/4/2024, là công cụ gây án, do vậy cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 01 Điều 46, điểm a khoản 01 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 01 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 21, điểm a,c khoản 01 Điều 23, Điều 26, Điều 27 và khoản 01 Phần I, điểm b mục 1.3 phấn II biểu A của danh mục kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào quy định tại điểm đ khoản 02 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Minh T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích".

[2] Căn cứ vào quy định tại điểm đ khoản 02 Điều 134, điểm s, b khoản 01, khoản 02 Điều 51, khoản 01 điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Minh T1 01 (một) năm 06 (S) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 ( Ba ) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/01/2025.

Giao bị cáo Đặng Minh T1 cho UBND phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp hình phạt với bản án trước theo quy định tại Điều 55, 56 Bộ luật hình sự.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án Hình sự .

[3] Bồi thường Dân sự: điểm b khoản 01 điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 590 Bộ luật Dân sự :

Tuyên buộc bị cáo Đặng Minh T1 phải bồi thường cho bị hại Kiều Ngọc H số tiền chi phí thiệt hại về sức khỏe tổng cộng là 23.000.000 đ (Hai mươi ba triệu đồng); Bị cáo Đặng Minh T1 đã bồi thường 13 triệu đồng, số tiền còn lại bị cáo Đặng Minh T1 phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Kiều Ngọc H là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật( đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng quy định tại điểm a khoản 01 Điều 46, điểm a khoản 01 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 01 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

+ Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cây kiếm tự chế dài 70cm; phần cán làm bằng gỗ, màu đỏ chiều dài 23,5cm; phần lưỡi kiếm rỉ sét, màu nâu, chiều dài 46,5cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 87 ngày 30/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết)

[6] Về án phí:

- Bị cáo Đặng Minh T1 phải nộp 200.000₫ án phí sơ thẩm Hình sự và 500.000đ án phí sơ thẩm Dân sự ;

[7] Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Quyền kháng cáo bản án của các bị cáo, bị hại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Về phần quyền lợi nghĩa vụ liên quan ) là 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án Dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhân:

  • - VKSND tp Phan Thiết;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an tp. P;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú;
  • - Thi hành án tp.;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Như X1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 44/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dặng Minh T cố ý gây thương tich
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger