|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29 - 11 - 2024
V/v ly hôn, tranh chấp
nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Hoàng Hào.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Hoàng Thị Thúy Giang.
- 2. Bà Nguyễn Thị Thảo.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đặng Trường Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 113/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M (Nguyễn Thị T), sinh năm 1976; địa chỉ thường trú: Xóm Q, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Bị đơn: Ông Võ Đình L, sinh năm 1969; địa chỉ cư trú: Xóm Q, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M (Nguyễn Thị T) trình bày:
Về hôn nhân: Bà kết hôn với ông Võ Đình L vào ngày 24 tháng 7 năm 2000, có đăng ký tại UBND xã N nay là xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được khoảng hơn một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình, suy nghĩ, quan điểm không hợp nhau, chồng có người phụ nữ khác, bạo hành gia đình với bà, mâu thuẫn trầm trọng nên từ năm 2023 cho đến nay hai vợ chồng ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Mâu thuẫn hai vợ chồng đã được hòa giải nhiều lần nhưng ông L không thay đổi. Nay bà không còn tình cảm nên yêu cầu được ly hôn với ông Võ Đình L, mặc dù ông L có nguyện vọng đoàn tụ nhưng bà không đồng ý.
Về con chung: Bà và ông Võ Đình L có bốn con chung: Võ Thị Y, sinh ngày 15/4/2001, Võ Thị T1, sinh ngày 07/11/2002, Võ Thị H, sinh ngày 04/7/2010 và Võ Thị Như Q, sinh ngày 06/3/2015. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q, nhường cháu H cho ông L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên không cấp dưỡng cho nhau. Trường hợp ông L không nuôi dưỡng cháu H thì bà sẽ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai cháu H và Q, không yêu cầu cấp dưỡng. Đối với cháu Y và T1 đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và khoản nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Võ Đình L trình bày:
Về hôn nhân: Ngày tháng năm, địa điểm đăng ký kết hôn đúng như bà M trình bày. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình khác nhau, ông thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn cải vã nhau do bức xúc nên ông có đánh đập bà M (T) đôi lần, do vợ nghi ngờ ghen tuông ông từ đó mâu thuẫn hai vợ chồng trở nên trầm trọng, từ năm 2023 đến nay hai vợ chồng sống ly thân nhau, không còn chăm sóc, quan tâm nhau. Tuy nhiên, bà M làm đơn ly hôn ông không đồng ý lý do muốn đoàn tụ để nuôi dạy con cái trưởng thành.
Về con chung: Ông và bà Nguyễn Thị M (Nguyễn Thị T) có bốn con chung: Võ Thị Y, sinh ngày 15/4/2001, Võ Thị T1, sinh ngày 07/11/2002, Võ Thị H, sinh ngày 04/7/2010 và Võ Thị Như Q, sinh ngày 06/3/2015. Nếu ly hôn, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Võ Thị Như Q và Võ Thị H cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con. Đối với Võ Thị Y và Võ Thị T1 đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và khoản nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách tố tụng, việc điều tra thu thập chứng cứ, việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, xử:
Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị M (Nguyễn Thị T) ly hôn với ông Võ Đình L;
Về con chung: Giao con chung Võ Thị Như Q, sinh ngày 06/3/2015 cho bà Nguyễn Thị M (Nguyễn Thị T) được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ trưởng thành. Giao con chung Võ Thị H, sinh ngày 04/7/2010 cho ông Võ Đình L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho nhau do người trực tiếp nuôi con không yêu cầu. Đối với hai con chung Võ Thị Y, sinh ngày 15/4/2001, Võ Thị T1, sinh ngày 07/11/2002 đã đủ tuổi trưởng thành, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và khoản nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị M (Nguyễn Thị T) phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng:
Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M (Nguyễn Thị T) yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với ông Võ Đình L có nơi cư trú tại xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Tranh chấp hôn nhân gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về pháp luật nội dung:
2.1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M (Nguyễn Thị T) và ông Võ Đình L kết hôn ngày 24 tháng 7 năm 2000, có đăng ký tại UBND xã N nay là xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An theo trích lục kết hôn số 27/2024, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, phát sinh quyền nghĩa vụ của vợ chồng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được khoảng hơn một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình, lối sống, quan điểm hai người không hợp nhau, chồng có hành vi bạo hành với vợ, vợ không tin tưởng, nghi ngờ chồng có người phụ nữ khác. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên từ năm 2023 đến nay vợ chồng ly thân nhau, không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc nhau. Bà M (T) yêu cầu ly hôn, về phía ông L tuy thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân, không còn quan tâm chăm sóc nhau nhưng vẫn không đồng ý ly hôn mà muốn đoàn tụ nhưng không đưa ra được giải pháp nào để hàn gắn tình cảm. Xét thấy: Hôn nhân của bà M (T) và ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cho bà Nguyễn Thị M (Nguyễn Thị T) được ly hôn với ông Võ Đình L.
2.2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị M (Nguyễn Thị T) và ông Võ Đình L có bốn con chung: Võ Thị Y, sinh ngày 15/4/2001, Võ Thị T1, sinh ngày 07/11/2002, Võ Thị H, sinh ngày 04/7/2010 và Võ Thị Như Q, sinh ngày 06/3/2015. Ly hôn, bà M (T) có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q, nhường cho ông L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H. Ý kiến của ông L, nếu ly hôn ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Q và H cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Nguyện vọng của bà M (T) và ông L là hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho việc phát triển của các cháu, tính công bằng của pháp luật, cần giao cháu Q cho bà M (T) được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ tuổi 18 tuổi, trưởng thành và giao cháu H cho ông L được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ tuổi 18 tuổi, trưởng thành.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau do người trực tiếp nuôi con không yêu cầu.
Đối với Võ Thị Y và Võ Thị T1 đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì lợi ích mọi mặt của con, đương sự có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Trường hợp có đơn yêu cầu sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
[5] Về tài sản chung và khoản nợ chung: Bà M (T) và ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có đơn yêu cầu sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
[6] Về án phí: Nguyên đơn bà M (T) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
[7] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 147, 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M (Nguyễn Thị T).
1. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị M (Nguyễn Thị T) được ly hôn với ông Võ Đình L.
2. Về con chung:
Giao con chung Võ Thị Như Q, sinh ngày 06/3/2015 cho bà Nguyễn Thị M (Nguyễn Thị T) được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Giao con chung Võ Thị H, sinh ngày 04/7/2010 cho ông Võ Đình L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau do người trực tiếp nuôi con không yêu cầu.
Ông Võ Đình L và bà Nguyễn Thị M (Nguyễn Thị T) có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, đương sự có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.
Đối với hai con chung Võ Thị Y, sinh ngày 15/4/2001, Võ Thị T1, sinh ngày 07/11/2002 đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị M (Nguyễn Thị T) phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001712 ngày 03/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Hoàng Hào |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGĐ Mai Linh
