Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN IA GRAI

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HS-ST

Ngày: 15-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Vũ;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đình Xiềng và bà Bùi Thị Nga.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Hạ - Thư ký Toà án Nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/HSST ngày 03/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 04/11/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Yên B-Sinh năm 2004 tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Làng N, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hưng N và bà: Trần Thị Điềm C; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/4/2024 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Làng B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Trần Thị Điềm C, sinh năm 1973.
  • Địa chỉ: Làng N, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • + Anh Lê Đình L, sinh năm 2000.
  • Địa chỉ: Làng N, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • + Anh Lê Quang H, sinh năm 2004.
  • Địa chỉ: Làng N, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Thành L1, sinh năm 2001.
  • Địa chỉ: Làng N, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • + Anh Nguyễn Tuấn T1, sinh năm 2002.
  • Địa chỉ: Làng N, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • + Anh Nguyễn Văn L2, sinh năm 1989.
  • Địa chỉ: Làng N, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • + Anh Lê Quang V, sinh năm 2003.
  • Địa chỉ: Thôn 1, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • + Bà Đàm Thị O, sinh năm 1967.
  • Địa chỉ: Làng B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 07/02/2024, Nguyễn Yên B đang ngồi uống nước tại quán nước thuộc làng N, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai thì thấy anh Nguyễn Văn T đi cùng Nguyễn Thành L1, Nguyễn Tuấn T1, Lê Đình L (tên thường gọi: L) và Lê Quang H cùng trú tại làng N, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai điều khiển xe mô tô chạy ngang qua, có cầm theo 02 (hai) cây gậy sắt và 01 (một) con dao rựa. Qua tìm hiểu, bị cáo B biết được nhóm của T trong lúc nói chuyện qua điện thoại với Lê Quang V (Em họ của Lê Quang H) trú tại Thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai có xảy ra mâu thuẫn nên hai bên thách thức đi đánh nhau để giải quyết mâu thuẫn. Vì bị cáo B thấy em họ là Lê Quang H đi cùng nên B có đến can ngăn không cho đi đánh nhau và nói nhóm của T đi về nhà vì đã gần đến tết nhưng nhóm của T không nghe và tiếp tục điều khiển xe mô tô đi. Lúc này, H điều khiển xe mô tô chở T; L1 điều khiển xe mô tô chở T1 và Long T2 đi đến nơi hẹn đánh nhau nên B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS: 81B3-229.29 chạy theo sau để can ngăn. Khi B đi ngang qua nhà Nguyễn Văn L2, biết B đi can ngăn nhóm của T nên Nguyễn Văn L2 gọi B lại và nói B chở đi cùng để can ngăn đánh nhau. Khi đi đến khu vực ngã ba làng T, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai thì T nói H dừng xe lại để đi vệ sinh. Tiếp đó, B điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn L2 đến, cùng lúc này thì Long T2, T1, L1 cũng đi đến. Sau đó, Nguyễn Văn L2 đi tới can ngăn và nói nhóm của T đi về nhưng cả nhóm không nghe nên L2 bỏ ra ngồi tại gốc cây điều gần đó. Bị cáo B tiếp tục đi đến và nói cả nhóm T đi về nhưng T đã chửi lại và đi về phía B để định đánh B nên H đã đến ôm T lại để can ngăn. Do thấy H ôm T nên Long T2 cầm 01 (một) gậy sắt lao đến đánh về phía của H làm H bị xây xát tay. H đi về phía xe mô tô lấy 01 (một) con dao rựa đánh lại làm xây xát ngón cái tay phải đang cầm gậy của L. Sau đó, H vứt dao và bỏ chạy vào trong lô cao su, Long T2 cầm gậy đuổi theo H khoảng 02 (hai) mét thì dừng lại không đuổi nữa. Cùng lúc này T tiếp tục đi về phía B nên cả hai xông vào giằng co với nhau rồi B đi đến xe mô tô của B, mở cốp xe lấy 01 (một) con dao thái lan chiều dài 20cm, lưỡi dao bằng kim loại, đầu nhọn, cán bằng nhựa, màu vàng cầm trên tay phải, khi T tiếp tục đi về phía B để xô xát đánh nhau nên B dùng dao đâm một nhát từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới trúng vào bên hông trái T. Khi biết đâm trúng T, bị cáo B đã rút dao ra ném xuống dưới đất rồi nói to với những người còn lại là đã đâm trúng T rồi. Nghe vậy, Nguyễn Văn L2 lại nói Long T2 và T1 cùng chở T đi trạm xá xử lý vết thương rồi đi về nhà. B đã gọi điện thoại về nhà rồi đi đến nhà T để cùng mọi người đưa T đi chữa trị tại Bệnh viện Q tại thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 163/KLTTCT-TTPY ngày 01/4/2024 và Công văn số 21 ngày 15/4/2024 về việc trao đổi kết luận giám định của Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định là: 68%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

  • - Cơ chế hình thành vết thương: Do sự tác động trực tiếp.
  • - Xác định vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật sắc bén, mũi nhọn.

Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 03/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Yên B về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

2. Kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Lời nói sau cùng bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Người bị hại Nguyễn Văn T thừa nhận, vào ngày 07/02/2024, bị hại cùng Nguyễn Thành L1, Nguyễn Tuấn T1, Lê Đình L, Lê Quang H dự tiệc tất niên tại nhà bị hại thì có anh Lê Quang V gọi điện thoại cho Lê Quang H nhưng L1 và T nghe điện thoại, giữa hai bên xảy ra mâu thuẫn nên sau đó hẹn gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn. Cả nhóm bị hại đã điều khiển xe mô tô, mang theo hung khí gồm 01 con dao rựa và 02 cây sắt mục đích đi đến địa điểm hẹn để đanh nhau với nhóm của V nên bị cáo B có điều khiển xe chở Nguyễn Văn L2 chạy theo để can ngăn, bị hại không đồng ý đi về nên đã chưởi mắng và xô xát với bị cáo B dẫn đến việc bị cáo dùng dao đâm bị hại. Bị hại thừa nhận bản thân có phần lỗi dẫn đến vụ án.

- Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, khung hình phạt như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên phạt bị cáo mức hình phạt từ 05-06 năm tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ trong vụ án đã thu thập đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Yên B khai nhận diễn biến hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; có đủ có đủ cơ sở khẳng định:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 07/02/2024, bị cáo Nguyễn Yên B đang ngồi uống nước tại quán thuộc làng N, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai thì thấy anh Nguyễn Văn T, Nguyễn Thành L1, Nguyễn Tuấn T1, Lê Đình L, Lê Quang H điều khiển xe mô tô, mang theo hung khí mục đích đi đến nơi hẹn đánh nhau để giải quyết mâu thuẫn với anh Lê Quang V. Do có Lê Quang H là em họ của bị cáo đi trong nhóm của bị hại nên bị cáo B đã điều khiển xe mô tô BKS: 81B3-229.29 chở anh Nguyễn Văn L2 đi theo để can ngăn. Bị cáo và anh L2 cùng khuyên can nhóm anh T đi về nhưng anh T không đồng ý. Sau đó, bị cáo tiếp tục khuyên can anh T đi về nhưng anh T đã chửi mắng và đi đến giằng co, xô xát với bị cáo nên xảy ra mâu thuẫn. Bị cáo đã đi đến xe mô tô để lấy con dao thái lan có sẵn trong cốp xe cầm bằng tay phải, khi anh T đi đến chỗ bị cáo để xô xát đánh nhau nên bị cáo đã dùng dao đâm 01 nhát trúng vào bên hông trái của T. Sau khi biết đã đâm trúng anh T, bị cáo đã kêu gọi những người có mặt đưa anh T đi cấp cứu.

Xét dao thái lan là loại hung khí nguy hiểm, bị cáo đã sử dụng để đâm bị hại nhằm nhằm cố ý xâm phạm đến sức khỏe, hậu quả gây thương tích theo kết luận giám định là 68%. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” được quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng:

Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức nên biết rõ dao thái lan là loại hung khí sắc, nhọn, việc sử dụng dao để đâm người bị hại sẽ gây ra hậu quả thương tích nhưng vì bực tức do đã nhiều lần can ngăn nhóm của bị hại, trong đó có em họ của bị cáo để tránh xảy ra việc đánh nhau với người khác nhưng anh T đã không đồng ý mà còn chửi mắng, chủ động xô xát với bị cáo nên bị cáo đã dùng dao đâm bị hại để giải quyết mâu thuẫn. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, vì vậy cần phải nghiêm trị bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên có nhân thân tốt. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết năng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo đã tác động gia đình thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình của bị hại; người bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông nội là người có công với cách mạnh. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Mặt khác, xét nguyên nhân phạm tội xuất phát từ việc bị cáo đã nhiều lần can ngăn bị hại và những người khác không đánh nhau với người khác nhưng trong lúc can ngăn đã xảy ra mâu thuẫn, giữa bị cáo và bị hại là bạn bè nên bị cáo không có ý thức trước trong việc đánh bị hại để gây thương tích. Tại phiên tòa, bị hại thừa nhận nguyên nhân phạm tội của bị cáo có phần lỗi của bị hại, do đã uống nhiều rượu nên khi bị cáo đến can ngăn nhóm bị hại để tránh xảy ra đánh nhau, bị hại đã không nghe mà còn chửi lại và chủ động đi đến xô xát với bị cáo nên xảy ra việc bị cáo dùng dao đâm bị hại, nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt.

[5] Xét bị cáo phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, nguyên nhân phạm tội có phần lỗi của bị hại, bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, Hội đồng áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn khung hình phạt đã phạm cũng đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Đối với Lê Quang H và Lê Đình L dùng hung khí đánh nhau nhưng H và L trong quá trình điều tra đã từ chối giám định tỷ lệ thương tích, không yêu cầu xử lý nên không xem xét giải quyết.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động cha, mẹ thỏa thuận thực hiện xong phần bồi thường dân sự cho bị hại, tại phiên tòa bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326; Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Yên B phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Yên B 05 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2024.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Yên B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay, bị cáo; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Ia Grai;
  • - Công an huyện Ia Grai;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai;
  • - Chi cục THADS huyện Ia Grai;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 44/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Hình sự Nguyễn Yên B - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger