Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 44/2024/HS-ST.

Ngày: 06 - 11 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tăng Văn Thành.

Ông Trần Hoàng Việt.

Thư ký phiên tòa: Bà Tiêu Thanh Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Kiều Thanh Thật và ông Phạm Văn C - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Sơn Ngọt; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1988, tại: huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Khmer; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sơn Đ và bà Trần Thị Bạch C1; tiền án: không; tiền sự: không; vợ và con: không; nhân thân: Ngày 21/8/2007 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 12/12/2008 (Đã được xóa án tích); bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/8/2024 đến nay (Có mặt).

- Bị hại:

  • + Lâm Kim T; Sinh năm: 1975. Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).
  • + Trần Văn H; Sinh năm: 1972. Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Lê Thị Hồng H1; Sinh năm: 1989. Nơi cư trú: Áp Đ, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).

- Người làm chứng: Trần Văn H2 (tên gọi khác: ông T1); Sinh năm: 1954. Nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

- Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Tăng Rô Qui S – Hòa giải viên Tòa án nhân dân huyện Trần Đề (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 30/6/2024, ông Trần Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE S, biển kiểm soát 83P1-465.37 đi từ nhà đến nơi đậu ghe của ông Trần Văn H2 (tên gọi khác: ông T1) thuộc Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng để uống rượu (nhậu). Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, bị cáo Sơn N đi bộ từ nhà đến ghe của ông T1, nên vào nhậu cùng với ông T1 và ông H, cả ba người nhậu được khoảng 30 phút thì cúp điện nên nghỉ nhậu. Lúc này, ông H lấy chẹt bơi đi ruộng, còn ông T1 thì vào trong ghe nằm ngủ. Sau đó, bị cáo N thấy xe biển kiểm soát 83P1-465.37 của ông H có gắn sẵn chìa khóa, nên nảy sinh ý định trộm xe để bán kiếm tiền tiêu xài. Bị cáo N lấy xe và chạy xe về nhà cất giấu. Sáng hôm sau, ông H đi ruộng về, nhưng không thấy xe đâu nên đi tìm. Ông H có đến nhà Sơn N để hỏi N có mượn xe của ông H không, nhưng N nói không có lấy.

Sáng ngày 03/7/2024, bị cáo N thuê xe ôm đến vựa ve chai Phương Đẳng gần cầu V thuộc ấp Đ, xã V, huyện T để hỏi giá bán xe. Bà Lê Thị Hồng H1 là chủ tiệm ve chai cho biết tại tiệm ve chai chỉ mua xe phế liệu giá từ 700.000 đồng đến 800.000 đồng. Sau đó, N về nhà tháo biển kiểm soát số 83P1-465.37 của xe ông H ra và giấu ở nhà sau, đến khoảng 12 giờ cùng ngày N điều khiển xe đến vựa ve chai trên bán được số tiền là 800.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 26/7/2024 của Hội đồng Định giá tài sản huyện T kết luận: Xe mô tô hiệu HONDA, loại WAVE S, màu đỏ-đen, có giá trị còn lại là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), thời điểm định giá tài sản vào ngày 30/6/2024.

Trên cơ sở kết quả điều tra và những tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với Sơn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vật chứng trong vụ án: Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã quyết định thu giữ:

  • - 01 (một) xe môtô (không có biển kiểm soát) nhãn hiệu HONDA, loại WAVE S, màu Đỏ-Đen, số máy 52E422631, số khung 210CY408384 (đã qua sử dụng).
  • - 01 (một) biển kiểm soát xe môtô 83P1-465.37 có nền màu trắng, chữ và số màu đen, biển số bằng nhựa trắng trong suốt, xung quanh và phía sau biển số được bao bọc lại bằng kim loại màu trắng, kích thước 19,5x14,5cm.

- Tại Bản cáo trạng số: 44/CT-VKSTĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng để xét xử đối với Sơn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cáo trạng số: 44/CT-VKSTĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Sơn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như sau: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại không lớn; tài sản cũng đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị cáo là người dân tộc Khmer nhận thức pháp luật còn hạn chế, có trình độ học vấn thấp, tại phiên tòa bị hại H cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 21/8/2007 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 18 tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 12/12/2008 (Đã được xóa án tích). Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên phạt bị cáo Sơn N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng của vụ án (Các biện pháp tư pháp): 01 (một) xe môtô (không có biển kiểm soát) nhãn hiệu HONDA, loại WAVE S, màu Đỏ-Đen, số máy 52E422631, số khung 210CY408384 (đã qua sử dụng); 01 (một) biển kiểm soát xe môtô 83P1-465.37 có nền màu trắng, chữ và số màu đen, biển số bằng nhựa trắng trong suốt, xung quanh và phía sau biển số được bao bọc lại bằng kim loại màu trắng, kích thước 19,5x14,5cm. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định là vật chứng của vụ án, đồng thời là tài sản hợp pháp của bị hại Lâm Kim T và Trần Văn H, nên đã tiến hành trả lại cho bị hại, nên không đề nghị đặt ra xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì, nên đề nghị không đặt ra xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Sơn N có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Ý kiến của bị hại Lâm Kim T:

  • + Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
  • + Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra gia đình bị hại đã nhận lại tài sản, nên không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

- Ý kiến của bị hại Trần Văn H:

  • + Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • + Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra gia đình bị hại đã nhận lại tài sản, nên không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

- Ý kiến của người của quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Hồng H1:

  • + Về trách nhiệm hình sự: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • + Về trách nhiệm dân sự: Do không biết xe mà bị cáo mang bán là do bị cáo lấy trộm của người khác. Sau khi biết được xe là do bị cáo lấy trộm, nên đã phối hợp giao nộp lại cho cơ quan điều tra và bị cáo cũng đã trả lại tiền cho bà H1, tại phiên tòa không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

- Ý kiến của bị cáo Sơn N: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề đã truy tố, bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi của mình đã gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người làm chứng là Trần Văn H2 (tên gọi khác: ông T1) vắng mặt tại phiên tòa. Do trước đó người làm chứng là Trần Văn H2 đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của ông H2 tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng là Trần Văn H2.

[3] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Sơn N thừa nhận: Vào khoảng 18 giờ ngày 30/6/2024, ông Trần Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE S, biển kiểm soát 83P1-465.37 đi từ nhà đến nơi đậu ghe của ông Trần Văn H2 (tên gọi khác: ông T1) thuộc Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng để uống rượu (nhậu). Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, bị cáo Sơn N đi bộ từ nhà đến ghe của ông T1, nên vào nhậu cùng với ông T1 và ông H, cả ba người nhậu được khoảng 30 phút thì cúp điện nên nghỉ nhậu. Lúc này, ông H lấy chẹt bơi đi ruộng, còn ông T1 thì vào trong ghe nằm ngủ. Sau đó, bị cáo N thấy xe biển kiểm soát 83P1-465.37 của ông H có gắn sẵn chìa khóa, nên nảy sinh ý định trộm xe để bán kiếm tiền tiêu xài. Bị cáo N lấy xe và chạy xe về nhà cất giấu. Sáng hôm sau, ông H đi ruộng về, nhưng không thấy xe đâu nên đi tìm. Ông H có đến nhà Sơn N để hỏi N có mượn xe của ông H không, nhưng N nói không có lấy.

Sáng ngày 03/7/2024, bị cáo N thuê xe ôm đến vựa ve chai Phương Đẳng gần cầu V thuộc ấp Đ, xã V, huyện T để hỏi giá bán xe. Bà Lê Thị Hồng H1 là chủ tiệm ve chai cho biết tại tiệm ve chai chỉ mua xe phế liệu giá từ 700.000 đồng đến 800.000 đồng. Sau đó, N về nhà tháo biển kiểm soát số 83P1-465.37 của xe ông H ra và giấu ở nhà sau, đến khoảng 12 giờ cùng ngày N điều khiển xe đến vựa ve chai trên bán được số tiền là 800.000 đồng. Sau khi bị Cơ quan công an mời lên làm việc thì Sơn N đã tự khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

[4] Đối với lời khai nhận tội và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu đối với tài sản của công dân nói chung, tài sản của bị hại H và T nói riêng, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng số: 44/CT-VKSTĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm mục đích cải tạo, răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội sau này và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Sơn N thấy rằng, trước khi lượng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như sau: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại không lớn; tài sản cũng đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị cáo là người dân tộc Khmer nhận thức pháp luật còn hạn chế, có trình độ học vấn thấp, tại phiên tòa bị hại H cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, căn cứ vào điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng là đúng pháp luật. Tuy nhiên, về nhân thân của bị cáo: Ngày 21/8/2007 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 12/12/2008 (Đã được xóa án tích), đây sẽ là cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại Lâm Kim T và Trần Văn H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có thu nhập ổn định, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng của vụ án (Các biện pháp tư pháp): 01 (một) xe môtô (không có biển kiểm soát) nhãn hiệu HONDA, loại WAVE S, màu Đỏ-Đen, số máy 52E422631, số khung 210CY408384 (đã qua sử dụng); 01 (một) biển kiểm soát xe môtô 83P1-465.37 có nền màu trắng, chữ và số màu đen, biển số bằng nhựa trắng trong suốt, xung quanh và phía sau biển số được bao bọc lại bằng kim loại màu trắng, kích thước 19,5x14,5cm. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định là vật chứng của vụ án, đồng thời là tài sản hợp pháp của bị hại Lâm Kim T và Trần Văn H, nên đã tiến hành trả lại cho bị hại trong giai đoạn điều tra, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo Sơn N là người bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

+ Tuyên bố bị cáo Sơn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Xử phạt bị cáo Sơn N 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt đi thi hành án.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử buộc bị cáo Sơn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

- Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Đề;
  • - CAND huyện Trần Đề;
  • - Cơ quan THAHS huyện Trần Đề;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - NCQL, NVLQ;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Mỹ Xuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 44/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo Sơn Ng 01 năm tù, thời hạn tính từ ngày tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt đi thi hành án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger