|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày 31-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Khắc Quyết;
Bà Đỗ Thị Viện;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Bình - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần là phòng xét xử tại Trại tạm giam Công an thành phố H xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Tuấn A, sinh ngày 06 tháng 8 năm 1994 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố số D, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn R (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thanh P; chưa có vợ, con; tiền án: có 01 tiền án tại Bản án số 16/2020/HS-ST ngày 29-12-2020 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn xử phạt Lê Tuấn A 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chưa được xóa án tích); tiền sự: không; Nhân thân: có 02 tiền án tại Bản án số 22/2014/HSST ngày 27-10-2014 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn xử phạt Lê Tuấn A 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích); Bản án số 21/2016/HSST ngày 16-9-2016 xử phạt Lê Tuấn A 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 11-6-2024, chuyển tạm giam từ ngày 18-6-2024; có mặt.
Bị hại: Anh Phạm Tiến Đ, sinh ngày 23 tháng 01 năm 2000; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố H; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng: Anh Bùi Thế Đ1, bà Nguyễn Thị Thanh P; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 01-6-2024 đến ngày 09-6-2024 Lê Tuấn A đã 03 lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Phạm Tiến Đ, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: khoảng 18 giờ 00 phút ngày 01-6-2024, Phạm Tiến Đ nhắn tin qua mạng xã hội Facebook Messenger từ tài khoản của Đ có tên là “Phạm Đ” đến tài khoản của Lê Tuấn A có tên là “Tuấn Mỏng M” với nội dung hỏi mua của Tuấn A 200.000đồng ma túy đá. Tuấn A đồng ý và hẹn với Đ sẽ giao ma túy đá tại khu vực B thuộc khu I, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Sau đó, Tuấn A lấy một ít gia vị “mì chính” cho vào mảnh nilon màu trắng rồi dùng bật lửa hàn kín lại. Tuấn A cầm gói ma túy đá giả ra khu vực B đưa cho Đ, Đ đưa cho Tuấn A 200.000đồng. Đ cầm gói ma túy giả về nhà sử dụng bằng hình thức châm lửa hút thì thấy bị cháy đen nên nghi ngờ Tuấn A bán ma túy giả cho mình nên đã gọi điện cho Tuấn A thì Tuấn A cho rằng mình bán nhầm cho Đ nhưng không trả lại cho Đ số tiền này mà đã chi tiêu cá nhân hết.
Lần thứ hai: Vào tối ngày 07-6-2024, Đ nhắn tin cho Tuấn A qua mạng xã hội Facebook Messenger từ tài khoản của Đ đến tài khoản của Tuấn A hỏi mua 01 viên ma túy tổng hợp và 01 gam ma túy Ketamine. Tuấn A tiếp tục nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền bằng cách bán ma túy giả cho Đ nên đã báo giá cho Đ là 200.000đồng/01viên ma túy tổng hợp và 1.200.000đồng/01gam ma túy Ketamine, đồng thời hẹn Đ đến nhà mình để nhận ma túy, Đ đồng ý. Tuấn A đi vào phòng ngủ của bà Nguyễn Thị Thanh P (là mẹ đẻ, chung sống cùng Tuấn A) tìm được 01 lọ thuốc ghi nhãn holista FOOD SUPPLEMENT, loại Selenium bên trong có nhiều viên nén màu vàng nhạt (là thực phẩm chức năng bổ sung dưỡng chất) và 01 gói giấy màu trắng-vàng cam, ghi nhãn THUỐC CỐM SỦI BỌT Parazacol 250 (là thuốc giảm đau, hạ sốt). Tuấn A lấy một viên nén màu vàng nhạt giả làm ma túy tổng hợp và xé gói giấy thì thấy bên trong có chất bột màu trắng nên đã lấy một phần chất bột cho vào mảnh nilon màu trắng rồi sử dụng bật lửa hàn kín lại để giả làm ma túy Ketamine. Tuấn A cho viên nén và túi nilon vào một mảnh giấy bạc dùng băng dính đen quấn lại rồi cho vào túi quần đang mặc. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Đ đi xe mô tô Biển kiểm soát 15AM-013.71 đến nhà Tuấn A. Tuấn A nói dối với Đ, bảo Đ chở đi mua ma túy cho Đ, Đ đồng ý. Tuấn A chỉ cho Đ đi đến một ngõ ở khu vực gần cổng Trường Cao đẳng kinh tế và công nghệ thực thẩm thuộc phường N, quận Đ, Hải Phòng thì dừng lại ở đầu ngõ. Đ đưa cho Tuấn A
1.400.000đồng, Tuấn A cầm tiền rồi đi bộ vào trong ngõ đến đoạn Đ bị khuất tầm nhìn thì lấy gói ma túy giả từ trong túi quần ra cầm ở tay. Khoảng 01-02 phút sau, Tuấn A quay lại chỗ Đ và đưa cho Đ gói ma túy giả, Đ cầm lấy rồi đi xe mô tô chở Tuấn A về nhà.
Lần thứ ba: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09-6-2024, với cách thức tương tự như lần thứ hai Tuấn A đã bán cho Đ 02 viên ma túy tổng hợp và 01 gam ma túy Ketamine giả chiếm đoạt số tiền 1.600.000đồng. Khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, Đ đi xe mô tô đến khu vực dốc 79 thì bị Công an phường V, Công an quận Đ kiểm tra bắt quả tang. Thu giữ: 01 gói giấy bạc bên ngoài được bọc bằng băng dính đen, bên trong có 02 viên nén màu vàng và 01 túi nilon bên trong có chứa chất bột màu trắng; số tiền 800.000đồng (04 tờ polyme mệnh giá 200.000đồng); chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 15AM-013.71 và giấy đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Tiến Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus, màu xanh đen.
Ngày 10-6-2024, Lê Tuấn A đến Công an quận Đ đầu thú và tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu vàng.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Tuấn A thu giữ: 01 hộp thuốc vỏ bằng giấy màu trắng-vàng cam, ghi nhãn holista FOOD SUPPLEMENT, loại Selenium, bên trong có 01 lọ thuốc, bên trong có 63 viên nén màu vàng nhạt, kích thước đồng đều nhau (01 x 0,5)cm; 01 gói giấy màu trắng-vàng cam, ghi nhãn THUỐC CỐM SỦI BỌT Parazacol 250, bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 chai nhựa hình trụ, kích thước (14,3 x 05)cm.
Kết luận giám định số 717/KL-KTHS ngày 13-6-2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận đối với số ma túy thu giữ trong quá trình bắt quả tang Phạm Tiến Đ:
“Chất bột màu trắng gửi giám định có khối lượng: 0,36gam, không phải là chất ma túy và tiền chất.
02 (hai) viên nén màu vàng nhạt gửi giám định có khối lượng: 0,79gam, không phải là chất ma túy và tiền chất.
H lại: 0,19gam chất bột; 0,37gam viên nén cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật, được niêm phong trong một phong bì giấy, dấu niêm phong số: 717MT/PC09 và chữ ký những người liên quan”.
Kết luận giám định số 912/KL-KTHS ngày 31-7-2024 của Phòng K - Công an thành phố H đối với vật chứng thu giữ tại nơi ở của Lê Tuấn A:
“Chất bột đựng trong gói giấy màu trắng-vàng cam, ghi nhãn THUỐC CỐM SỦI BỌT Parazacol 250 của mẫu giám định là đồng nhất với mẫu chất bột của mẫu so sánh (0,19gam mẫu chất bột hoàn lại).
63 (sáu mươi ba) viên nén màu vàng nhạt đựng trong lọ nhựa ghi nhãn “holista FOOD SUPPLEMENT, loại Selenium” của mẫu giám định là đồng nhất với viên nén của mẫu so sánh (0,37gam mẫu viên nén hoàn lại)”.
Kết luận giám định số 2588/KL-KTHS ngày 04-9-2024 của Phòng K - Công an thành phố H đối với chiếc điện thoại thu giữ của Phạm Tiến Đ:“Trong mẫu giám định ký hiệu A: Tìm thấy 1187 cuộc gọi, 55 tin nhắn tức thì, 68 cuộc hội thoại Facebook, 61 cuộc hội thoại Native Messages, 75 tin nhắn Recents, 01 cuộc hội thoại Tinder, 07 cuộc hội thoại WeChat, 69 cuộc hội thoại Zalo, 11685 tập tin hình ảnh được lưu trong máy”.
Kết luận giám định số 2591/KL-KTHS ngày 04-9-2024 của Phòng K - Công an thành phố H đối với chiếc điện thoại thu giữ của Lê Tuấn A: “Trong mẫu gửi giám định ký hiệu A: Tìm thấy: 3315 cuộc gọi, 112 tin nhắn tức thì, 109 cuộc hội thoại dạng riêng, 335 cuộc hội thoại Facebook, 180 cuộc hội thoại Native Messages, 61 tin nhắn Recents, 126 cuộc gọi Telegram, 238 cuộc hội thoại Zalo, 36260 tập tin hình ảnh được lưu trong máy”.
Ngày 18-6-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự; Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Tiến Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, đối với Lê Tuấn A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Ngày 06-9-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ Quyết định tách vụ án đối với hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Lê Tuấn A và đề nghị truy tố.
Bản Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 07-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đã truy tố Lê Tuấn A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Đối với Phạm Tiến Đ và những người khác có liên quan: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ đã có Quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Lê Tuấn A từ 30 tháng đến 33 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu số tiền 800.000đồng thu giữ trong tài khoản của Lê Tuấn A theo Chứng từ ghi sổ số CTK2024/108 ngày 15-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn và truy thu tiếp số tiền 2.400.000đồng, tổng là 3.200.000đồng là tiền bị cáo Lê Tuấn A thu lợi bất chính để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- + Đối với các vật chứng là: 02 phong bì niêm phong sau giám định có số 912MT/PC09 và 912MT-A/PC09; 01 chai nhựa hình trụ, kích thước (14,3x0,5)cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng mặt trước nứt vỡ, đã qua sử dụng, tình trạng không lên nguồn, không kiểm tra I; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14Plus màu xanh đen, đã qua sử dụng, tình trạng lên nguồn, có số Imei: 350320343932131, Imei2: 350320344209877; 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA SH, màu sơn đen, đã qua sử dụng, BKS 15AM-013.71; số máy: JK18E0406738, số khung: RLHJF9533PY103080, có chìa khóa xe và giấy đăng ký xe mang tên Phạm Tiến Đ, đề nghị tiếp tục tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15-10-2024 giữa Công an quận Đ và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn để giải quyết trong vụ án Phạm Tiến Đ bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Lê Tuấn A phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt và có ý kiến các lời khai đã trình bày tại Cơ quan điều tra là đúng, không bổ sung gì thêm. Bị hại không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 3.200.000đồng mà bị cáo đã chiếm đoạt cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Tuấn A không tranh luận với Kiểm sát viên, thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố là đúng, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền 3.200.000đồng là tiền thu lợi bất chính để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý
kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[3] Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn truy tố đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lê Tuấn A khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại về hành vi, thủ đoạn phạm tội, số lượng và đặc điểm tài sản bị chiếm đoạt, phù hợp với kết luận giám định, lời khai của người làm chứng. Bởi vậy, có đủ căn cứ xác định: Trong các ngày 01-6-2024; 07-6-2024; 09-6-2024, Lê Tuấn A đã có hành vi gian dối sử dụng mì chính, thực phẩm chức năng, thuốc uống để giả làm chất ma túy bán cho Phạm Tiến Đ và đã chiếm đoạt được số tiền 3.200.000đồng của Phạm Tiến Đ. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do nhu cầu tiêu xài của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Tài sản bị cáo chiếm đoạt là số tiền 3.200.000₫ (Ba triệu hai trăm nghìn đồng) nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bởi vậy, cần phải được xử lý nghiêm.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Tuấn A đã có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; tỏ ra ăn năn, hối cải, tự nguyện đầu thú đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi xem xét quyết định hình phạt.
[8] Đánh giá tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó xét mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo ý thức chấp hành pháp luật kém, nhân thân có ba tiền án trong đó có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên bị cáo là người có nhân thân rất xấu lại không có ý thức cải tạo, tu dưỡng để trở thành người công dân lương thiện nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian và xét xử bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Mặc dù vậy, căn cứ nguyên tắc xử lý của pháp luật hình sự cần khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, áp dụng hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.
[9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không xác định được bị cáo có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
[10] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã thu giữ gồm:
[10.1] Đối với: 02 phong bì niêm phong sau giám định có số 912MT/PC09 và 912MT-A/PC09; 01 chai nhựa hình trụ, kích thước (14,3x0,5)cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng mặt trước nứt vỡ, đã qua sử dụng, tình trạng không lên nguồn, không kiểm tra Imei thu giữ của Lê Tuấn A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14Plus màu xanh đen, đã qua sử dụng, tình trạng lên nguồn, có số Imei: 350320343932131, Imei2: 350320344209877; 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA SH, màu sơn đen, đã qua sử dụng, BKS 15AM-013.71; số máy: JK18E0406738, số khung: RLHJF9533PY103080, có chìa khóa xe và giấy đăng ký xe mang tên Phạm Tiến Đ là các vật chứng thu giữ của Phạm Tiến Đ. Xét thấy cần tiếp tục tạm giữ các vật chứng này tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15-10-2024 giữa Công an quận Đ và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn để giải quyết trong vụ án Phạm Tiến Đ bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự sau.
[10.2] Đối với số tiền 800.000đồng thu giữ trong tài khoản của Lê Tuấn A theo Chứng từ ghi sổ số CTK2024/108 ngày 15-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn là tiền bị cáo thu lợi bất chính cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước đồng thời truy thu tiếp số tiền 2.400.000đồng, tổng cộng là 3.200.000đồng là tiền bị cáo Lê Tuấn A thu lợi bất chính để sung vào Ngân sách Nhà nước. Tại phiên tòa bị cáo Lê Tuấn A cũng tự nguyện nộp lại số tiền 3.200.000đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
[11] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Tuấn A phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật. Bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Tuấn A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Lê Tuấn A 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 11 tháng 6 năm 2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- + Tịch thu số tiền 800.000đồng thu giữ trong tài khoản của Lê Tuấn A theo Chứng từ ghi sổ số CTK2024/108 ngày 15-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn và truy thu tiếp số tiền 2.400.000đồng, tổng là 3.200.000đồng là tiền bị cáo Lê Tuấn A thu lợi bất chính để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- + Tiếp tục tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15-10-2024 giữa Công an quận Đ và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn để giải quyết trong vụ án Phạm Tiến Đ bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với: 02 phong bì niêm phong sau giám định có số 912MT/PC09 và 912MT-A/PC09; 01 chai nhựa hình trụ, kích thước (14,3x0,5)cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng mặt trước nứt vỡ, đã qua sử dụng, tình trạng không lên nguồn, không kiểm tra I; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14Plus màu xanh đen, đã qua sử dụng, tình trạng lên nguồn, có số Imei: 350320343932131, Imei2: 350320344209877; 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA SH, màu sơn đen, đã qua sử dụng, BKS 15AM-013.71; số máy: JK18E0406738, số khung: RLHJF9533PY103080, có chìa khóa xe và giấy đăng ký xe mang tên Phạm Tiến Đ.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng ngày 15 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Lê Tuấn A phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Lê Tuấn A có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại Phạm Tiến Đ vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Phương |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Lê Tuấn A lừa đảo chiếm đoạt tài sản
